Thứ Ba, 29 tháng 11, 2011


HOMICIS

Dạng bào chế: viên nang mềm
Quy cách đóng gói: Hộp 3 vỉ x 10 viên nang

Homicis

Đánh giá: 0 stars
Giá bán: 135.000 VNĐ
Ngày đăng: 29-11-11 | 11:53
Khu vực: Toàn quốc | Lượt xem: 175
Nhà phân phối: Công ty TNHH Tuệ Linh
Nước sản xuất: Viet Nam
Tại Hà Nội:
Địa chỉ : Số 36, Lô M2, KĐT Yên Hòa, phường Yên Hòa, Cầu Giấy, Hà Nội.
ĐT : 04.85870252 . Fax: 043.5568747
Chi nhánh TP. HCM: 
Địa chỉ  : Số 152/28 Thành Thái, P. 12, Q. 10, TP.HCM.
ĐT : 083.9797779 * Fax: 086.2646832.
ĐT đường dây nóng: 0912571190, 0914382539.




CƠ CHẾ TÁC DỤNG

1. Nattokinase: enzym được chiết xuất từ đậu tương lên men bằng vi khuẩn Bacillus natto theo phương pháp truyền thống của Nhật Bản. Nattokinase có một số tác dụng như sau:

Hoạt tính tiêu huyết khối: Đặc tính sinh học của nattokinase rất giống với plasmin (enzym duy nhất trong cơ thể có khả năng làm tiêu huyết khối). Nattokinase nâng cao khả năng tự nhiên của cơ thể để làm tan các cục máu đông. Nattokinase có thể ngăn chặn sự chai cứng của mạch máu ở liều lượng 100 mg/ngày. Các cục máu đông (hay còn là huyết khối) tạo thành khi protein fibrin trong máu tích tụ lại trong mạch máu và là nguyên nhân dẫn đến tình trạng đau thắt ngực, đau tim hoặc dẫn đến sự lão suy và đột quị não. Nattokinase có thể phá tan các cục máu đông hữu hiệu mà không có tác dụng phụ.

Nattokinase có khả năng làm giảm huyết áp: Các nghiên cứu thuộc trường đại học Y Miyazaki và đại học Khoa học Kurashiki ở Nhật đã khảo sát ảnh hưởng của nattokinase đến huyết áp và chứng minh nattokinase có tác dụng hạ huyết áp. Hơn nữa, những nghiên cứu cũng khẳng định rằng sự có mặt của chất ức chế ACE là nguyên nhân gây ra làm hẹp thành mạch và làm áp suất máu tăng lên. Bằng việc ức chế ACE, nattokinase có ảnh hưởng đến làm giảm áp suất máu.

2. Vitamin B6, B9, B12 và chứng tăng nồng độ Homocystein

Homocystein là một acid amin có chứa nhóm sulfur, được sinh ra trong quá trình chuyển hóa methionin. Nồng độ Homocystein trong máu cao sẽ gây ra tình trạng tự oxy hóa do nhóm SH của homocystein có thể tạo ra các gốc tự do như hydrogen peroxide, gốc hydroxyl và gốc homocysteinyl. Các gốc tự do này gây độc trực tiếp cho tế bào và oxi hóa lipid, làm biến dạng màng tế bào. Nồng độ Homocystein trong máu cao sẽ gây gây ức chế glutathion peroxidase (chất chống oxy hóa nội sinh của cơ thể) do đó sẽ làm tăng quá trình phá hủy màng tế bào và làm tăng quá trình tạo huyết khối dẫn đến tình trạng hình thành các cục máu đông gây tổn thương hệ thống vi mạch và mạch máu lớn. Như vậy nồng độ Homocystein trong máu tăng cao làm tăng nguy cơ bệnh tim mạch.

Axit folic (vitamin B9), vitamin B6, B12 đóng vai trò then chốt trong việc làm giảm nồng độ Homocystein máu. Nếu cơ thể được bổ sung đầy đủ ba loại vitamin này thì nồng độ homocystein và nguy cơ mắc bệnh sẽ giảm đáng kể, đặc biệt là với những bệnh nhân tim mạch và tai biến mạch máu não.

3. Magnesium: có tác dụng quan trọng trong quá trình tạo glycogen của cơ và từ glucose trong máu, tham gia vào sự phân hủy glucose, acid béo và các acid amin trong quá trình chuyển hóa năng lượng, đảm bảo tính bền vững dẫn truyền thần kinh và sự co cơ.

4. Tinh chất nấm men thủy phân có hàm lượng acid amin tự do chiếm tới 70% và có 21 loại acid amin cần thiết cho cơ thể người, 8 loại acid amin thiết yếu. Dịch thủy phân nấm men còn có nhiều vitamin nhóm B, các vi lượng đặc biệt là selen, các chất chống oxi hóa như glutathion… giúp bồi bổ sức khỏe, nâng cao thể trạng.

CÔNG DỤNG
Giúp cải thiện hoạt tính Fibrinolytic (enzym làm tan huyết khối)
Giúp phòng ngừa và làm tan được các cục máu đông trong mạch máu, tăng cường lưu thông máu, hỗ trợ điều trị bệnh nghẽn mạch máu
Làm giảm nồng độ Homocystein trong máu do đó ngăn ngừa và làm giảm nguy cơ tim mạch, bệnh mạch vành, bệnh Alzheimer, chứng sa sút tâm thần ở người già
Hỗ trợ điều trị bệnh tim mạch như xơ vữa mạch vành, đau thắt ngực, nhồi máu cơ tim, các bệnh lý liên quan đến cục máu đông như tai biến mạch máu não, các biến chứng của bệnh tiểu đường
Nâng cao thể trạng cho người bệnh, người già yếu, làm giảm mệt mỏi suy nhược ở những người mắc bệnh tim mạch, tai biến não
ĐỐI TƯỢNG SỬ DỤNG:

Dùng cho người bị huyết áp cao, thiểu năng tuần hoàn não, nhồi máu cơ tim, người có nguy cơ tim mạch, người sau di chứng tai biến mạch máu não, biến chứng viêm tắc mạch ở người tiểu đường, người bị vón máu do tác dụng phụ của một số thuốc điều trị hoặc do uống rượu bia, người cao tuổi

CÁCH DÙNG

- Phòng ngừa bệnh nghẽn mạch máu: ngày uống 2 lần, mỗi lần 1viên, uống trước bữa ăn 30 phút

- Hỗ trợ điều trị bệnh: Ngày uống 2 lần, mỗi lần 2 viên, uống trước bữa ăn 30 phút.

LƯU Ý KHI SỬ DỤNG

- Chưa ghi nhận, cần thông báo với bác sỹ nếu có.

- Không nên dùng với các thuốc chống đông khác, không nên dùng quá liều.

- Phụ nữ có thai không nên dùng.

ĐÓNG GÓI: 
Hộp 3 vỉ x 10 viên nang

BẢO QUẢN:

Nơi khô mát, tránh ánh nắng trực tiếp

HẠN DÙNG:

36 tháng kể từ này sản xuất

Chủ Nhật, 20 tháng 11, 2011

MỘC NHĨ - PHÒNG VÀ TRỊ CÁC BỆNH VỀ TIM MẠCH


MỘC NHĨ
PHÒNG VÀ TRỊ CÁC BỆNH VỀ TIM MẠCH
Các công trình nghiên cứu khoa học nghiêm túc đã khẳng định: ăn mộc nhĩ làm giảm độ dính của máu, do đó ngăn chặn được tắc mạch hoặc vỡ mạch ở người huyết áp cao, hạn chế được tai biến mạch máu não và nhồi máu cơ tim.
Ở mức bình thường, mộc nhĩ giúp máu lưu thông toàn thân và lên não đầy đủ hơn, nên duy trì được trí nhớ tốt, vận hành các giác quan, các bộ phận của cơ thể tốt hơn. Ăn mộc nhĩ mỗi ngày 10 gam dưới hình thức sào với rau hay nấu canh quả thực là tốt.
Một ông chủ khách sạn người Đài Loan rất giàu, bị nhồi máu cơ tim nặng, hầu hết các mạch máu đều bị tắc nghẽn. Trong thời gian 1 tháng rưỡi chờ đợi tới lượt được lắp mạch máu nhân tạo, ông có dùng thử một đơn thuốc:
1- 10 gam mộc nhĩ.
2- 50 gam thịt nạc.
3- 5 quả táo tàu.
4- 3 lát gừng.
Đổ 6 bát nước, sắc như thuốc bắc đến khi còn 2 bát. Thêm vào tí muối và tí mỳ chính rồi ăn như canh. Mỗi ngày 1 lần, dùng liên tục trong 45 ngày.
Kết quả, trong cuộc kiểm tra trước giờ mổ ông được bác sĩ thông báo:
“Ông không có bệnh!
Các mạch chủ đều thông!
Chẳng cần lắp mạch nhân tạo nữa!
Ông về đi!...”
Chỉ có vậy thôi. Đơn giản quá, hữu hiệu quá!
Tóm lai, ăn mộc nhĩ đen, mỗi ngày 5-10 gam, có tác dụng làm tan lượng mỡ và cặn bã trong máu, làm cho máu lưu thông dễ dàng trong mạch, cho nên phòng và chữa được nhiều bệnh nan y về tim mạch.

XỬ LÝ CẤP CỨU VÀ ĐIỀU TRỊ DI CHỨNG TAI BIẾN MẠCH MÁU NÃO BẰNG Y HỌC CỔ TRUYỀN


XỬ LÝ CẤP CỨU VÀ ĐIỀU TRỊ DI CHỨNG TAI BIẾN MẠCH MÁU NÃO
BẰNG Y HỌC CỔ TRUYỀN

Lương y Võ Hà
Trong các chứng tai biến mạch não, việc chờ đợi người có chuyên môn cũng như việc xê dich, di chuyển người bệnh có thể làm trầm trọng thêm tình trạng xuất huyết hoặc tốn kém thời gian làm cho phần não bị hoại tử không thể hồi phục được.  Do đó, việc xử lý cấp cứu  kịp thời và đúng phương pháp có ý nghĩa quan trọng trong việc điều trị và  phục hồi hoàn toàn căn bệnh  nầy.

Tai biến mạch não là gì?

Tai biến mạch não còn gọi là đột qụy là một thể rối loạn tuần hoàn não cấp do việc cung cấp máu lên một phần não bị gián đoạn.  Bệnh thường xảy ra khi người bệnh trãi qua một sự thay đổi không khí đột ngột từ nóng sang lạnh, bị gió lùa, sau một nổ lực gắng sức, sau khi uống rượu hoặc bị một xúc động mạnh.  Tai biến não là một loại tổn thương nghiêm trọng mà nếu không được xử lý kịp thời có thể dẫn đến tử vong hoặc gây ra những di chứng nặng nề.  Việc gián đoạn dòng máu lên não có thể do vở mạch máu não hoặc do sự hình thành một cục máu đông hoặc do xơ vữa làm thuyên tắc mạch máu não.
 Triệu chứng.
Các triệu chứng thường xảy ra đột ngột.  Triệu chứng thần kinh xảy ra tương ứng với  khu vực não không được cung cấp máu.  Người bệnh có thể bị tê, yếu hoặc liệt hẳn ở một bên tay hoặc chân, đột nhiên giảm thị lực hoặc nói năng khó khăn, giảm khả năng phán đoán …  Có thể nhức đầu hoặc không.  Một số người có thể có một số dấu hiệu báo trước vài giờ hoặc vài ngày trước khi tai biến xảy ra.  Dấu hiệu nầy  có thể là buồn nôn, chóng mặt, tê bì một bên tay hay chân hoặc một  thoáng mất ý thức.  Để đơn giản và dễ nhớ cho tất cả mọi người, ở Mỹ người ta tóm tắt các triệu chứng của một người đang bị đột quỵ bằng 3 chử STR.  STR là 3 chử cái đầu của 3 từ Smile (mỉm cười), Talk (nói) và Raise (nâng lên).  Nhằm giảm thiểu tác hại của đột quỵ cũng như số người bị đột quỵ, mỗi người nên biết rõ STR và hãy xử lý cấp cứu hoặc chuyển viện ngay nếu nhận ra người bên cạnh mình đột nhiên có một trong 3 triệu chứng nầy:
·        Smile.  Hãy thử mỉm cười.  Người nầy không thể mỉm cười được.
·        Talk. Yêu cầu người đó nói một câu đơn giản,  Ví dụ: Hôm nay trời đẹp.  Người nầy không thể nói hoặc nói ngọng, nói không tròn tiếng.
·        Raise.  Hãy nâng 2 cánh tay hoặc 2 bàn tay lên.  Người nầy không thể nâng 2 cánh tay hoặc yếu hoặc liệt hẳn 1 bên.

Nguyên nhân.

Tai biến mạch não là một hội chứng thuộc phạm vi các chứng trúng phong của y học cỗ truyền.  Ở những người cao tuổi hoặc những người có khí chất suy yếu, chức năng các tạng Tâm , Can, Tỳ, Thận suy giảm, âm hư sinh đờm thấp.  Tai biến sẽ xảy ra đột ngột khi người có cơ địa nầy gặp phải phong tà bên ngoài hoặc những cảm xúc âm tính kích động Can dương gây ra Can phong nội động từ bên trong.  Phép chữa của Đông y thường phân ra chứng bế, chứng thoát, trúng phong kinh lạc hoặc trúng phong tạng phủ và tuỳ chứng mà điều trị bao gồm tức phong, thanh hoả, trừ đờm, khai khiếu nhằm giải toả chỗ ứ huyết và điều bổ cả khí lẫn huyết để đi đến cân bằng âm dương và tăng cường sức đề kháng để ốn định sức khoẻ về lâu dài.

Xử lý cấp cứu.

Trong các chứng tai biến về não, việc chờ đợi người có chuyên môn cũng như việc di chuyển, xê dịch người bệnh có thể làm trầm trọng thêm tình trạng xuất huyết hoặc tốn kém thời gian làm cho phần não thiếu dưỡng khí bị tổn thương không thể hồi phục được.  Do đó, việc xử lý cấp cứu kịp thời có ý nghĩa quan trọng trong việc phục hồi hoàn toàn tình trạng của người bệnh sau nầy.  Phương pháp sau đây được phổ biến theo kinh nghiệm của ông Ha bu Jing, một Bác sĩ người Trung quốc.  Đặc điểm của phương pháp là đơn giản, dễ nhớ, dễ làm, không bao gồm những phương huyệt phức tạp hoặc dụng cụ chuyên môn gì để mọi người đều có thể thực hành được ở bất cứ nơi đâu.  Theo phương pháp nầy, mỗi khi nhận ra một người đang có dấu hiệu đột quỵ, dù người đó đang còn ngồi, đứng hay đã quỵ xuống, đã hôn mê hay còn ý thức, người bên cạnh hãy bình tĩnh và thực hành lần lượt các bước sau đây trước khi chuyển họ đến cơ sở chuyên môn cần thiết:
·        Đặt bệnh nhân nằm xuống nhẹ nhàng.  Tránh tối đa việc xê dịch người bệnh để không làm trầm trọng thêm tình trạng xuất huyết.
·        Tìm ngay một cây kim khâu.  Hơ đầu kim vào lửa để sát trùng.
·        Lần lượt chích lễ 10 đầu ngón tay của người bệnh.  Dùng bàn tay trái giữ lấy  lóng  cuối chỗ gần đầu ngón tay  của người bệnh, dùng 3 ngón tay cái, trỏ và giữa của bàn tay phải cầm kim chích nhanh vào chỗ cao nhất của đầu ngón tay.  Rút kim ra và nặn nhẹ từ chỗ đã chích ra một hay hai  giọt máu.  Những đầu ngón tay là vị trí của Thập tuyên huyệt, nơi tập trung nhiều đầu dây thần kinh rất nhạy cảm.  Theo thuyếtphản xạ thần kinh cũng như thuyết toàn đồ, đầu ngón tay tương ứng với phần đầu của cơ thể và đỉnh nhọn của ngón tay ứng với huyệt Bách hộiở đỉnh đầu.  Ngoài ra, động tác chích lễ lại có tính “tả” và kích thích rất mạnh.   Do đó, có thể nói  chích lể các đầu ngón tay là biện pháp đặc hiệu  để kích thích tĩnh thần và khu phong hoá ứ ở khu vực đầu cũng như nảo bộ.  Động tác nầy vừa có thể ngăn chận hoặc phục hồi não từ tình trạng hôn mê lại vừa có thể loại bỏ tức thời yếu tố “phong”, nguyên nhân trực tiếp gây ra tai biến.  Mặt khác, tác động vào các đầu ngón tay cũng là gián tiếp tác động vào huyệt Bách hội nên có ý nghĩa kích hoạt sự thăng giáng cúa các đường kinh  dẫn đến thông kinh hoạt lạc, tiêu trệ hoá ứ, giúp giải quyết việc ứ huyết và điều hoà kinh khí toàn thân.
·        Đợi vài phút sau người bệnh sẽ tĩnh lại.
·        Nếu miệng hoặc mắt người bệnh còn méo lệch sang một bên hãy dùng ngón tay cái và ngón tay trỏ của 2 bàn tay vuốt cùng lúc cả 2 vành tay của người bệnh.  Vuốt từ trên xuống dưới. Vuốt nhẹ và vuốt liên tục nhiều lần cho đến khi 2 vành tay hồng đỏ lên..
·        Dùng bàn tay trái bóp nhẹ vào phần trên của vành tai người bệnh và chích vào chỗ cao nhất của vành tai  (huyệt Nhĩ tiêm).  Nặn ra một vài giọt máu.
Đến đây chúng ta có thể an tâm chuyển người bệnh đến cơ sở chuyên môn để được kiếm soát và chăm sóc các bước tiếp theo cho việc ổn định sức khoẻ lâu dài.  Hầu hết các trường hợp tai biến não được xử lý cấp cứu kịp thời theo phương pháp nầy đều trở lại bình thường.  Vấn đề còn lại là tuân thủ một chế độ sinh hoạt, ăn uống và luyện tập hợp lý để tăng cường sức đề kháng và kiểm soát các yếu tố nguy cơ có thể gây ra đột quỵ như cao huyết áp, cholesterol máu cao, béo phì, tiểu đường . .

Điều trị di chứng tai biến mạch não.

Trên thực tế nhiều trường hợp tai biến mạch não đã trải qua đột quỵ nhiều giờ hoặc nhiều ngày, đã được điều trị và để lại di chứng.  Trong những trường hợp nầy việc điều trị bằng Đông y kết hợp giữa châm cứu và dùng thuốc qua đối chứng lập phương có kết quả rất tích cực.  Tuy nhiên, phạm vi bài nầy sẽ chỉ đề cập đến 2 bài thuốc kinh nghiệm đặc trị đột quỵ với cùng một vị thuốc chủ lực. Đó là vị Địa long tức Trùn đất.  Địa long là một vị thuốc đã được xữ dụng trong y học dân gian từ lâu đời.  Địa long có vị mặn, tính hàn, vào 3 kinh Can, Tỳ , Thận, có tác dụng thanh nhiệt, lợi tiểu, giải độc.  Đặc biệt là tác dụng trấn kinh, làm tan ứ huyết, cải thiện  độ đàn hồi của mạch máu, nuôi dưỡng tế bào thần kinh và phục hồi trí nhớ  trong các chứng hôn mê do tai biến mạch nảo.  Từ năm 1911 các nhà khoa học Nhật bản đã tìm thấy trong Địa long có hoạt chất Lumbritin có tác dụng phá huyết ứ.  Gần đây tại nước ta, Tiến sĩ Nguyển thị Ngọc Dao  cũng đã công bố nghiên cứu về loài giun quế và cho biết trong các loài giun có chất enzym fibrinolytic có khả năng thuỷ phân rất mạnh các sợi fibrin -một loại protein trong máu- để làm tan các cục máu đông trong các chứng tai biến não.  Sau đây là 2 bài thuốc đặc trị di chứng tai biến não có sử dụng Địa long.

Thần dược cứu mệnh.

Toa thuốc và tên bài thuốc nầy xuất hiện từ khoảng đầu thể kỷ trước, được in lại trong quyển sách “Hai trăm bài thuốc quý” của ông Lê văn Tình vào năm 1940 với ghi chú là “chủ trị làm ban, ôn dịch và các bệnh nan y, công hiệu như thần, bệnh lui sau 60 phút”.  Sau nầy, bài thuốc  đã được ông Nguyển an Định, trưởng nam của  cụ Nguyển an Ninh cho phổ biến lại trên một số tờ báo.  Bài thuốc cũng đã được Bác sĩ Nguyển văn Hưởng, nguyên Bộ trưởng Bộ Y Tế cho phổ biến để sử dụng hửu hiệu trong đợt chống dịch sốt xuất huyết tại các tỉnh miền Bắc vào năm 1969. Cho đến nay bài thuốc đơn giản nầy đã cứu chữa và phục hồi cho rất nhiều trường hợp hôn mê do đột quỵ dù đã nhiều ngày trôi qua.  Trong một tài liệu được phổ biến vào năm 1997, ông Định cho biết “các dạng hôn mê do sốt xuất huyết hoặc tai biến mạch não chưa quá 10 ngày chỉ cần 3 thang, có khi chỉ 1 thang cũng hết bệnh”.  Bài thuốc nguyên thuỷ gồm 3 vị:
·        Địa long 50g (địa long phơi khô có bán sẳn ở các tiệm thuốc Bắc).
·        Đậu đen 100g.
·        Lá bồ ngót 200g (phơi khô, sao vàng).
Dùng khoảng 4 chén nước sắc còn độ hơn nửa chén, chia làm 2 lần cho người bệnh uống hoặc đổ vào miệng nếu đã bất tĩnh. Trong bài thuốc nầy ngoài Địa long còn có 2 vị đậu đen và lá bồ ngót.  Đậu đen và bồ ngót là 2 loại thức ăn thông dụng nhưng lại có giá trị bổ dưỡng rất cao, đặc biệt là những sinh tố và những acid amin thiết yếu cần thiết cho hoạt động của tế bào thần kinh.

Bổ dương hoàn ngủ thang.

Bổ dương hoàn ngủ thang là một cỗ phương chuyên trị các chứng trúng phong, tai biến mạch não.
  • Địa long 8g,
  • Hoàng kỳ 16g,
  • Đương quy vỉ 8g,
  • Xích thược 6g
  • Xuyên khung 4g,
  • Đào nhân 4g,
  • Hồng hoa 4g
Dùng khoảng 3 chén nước sắc còn hơn nữa chén, chia làm 2 lần cho người bệnh uống.  Trong bài thuốc nầy liều lượng của Địa long chỉ trung bình nhưng lại được sự phối hợp của 5 vị thuốc quen thuộc khác có tác dụng hành khí hoạt huyết để tạo nên kết quả làm tan máu ứ và khai thông kinh mạch.  Hoàng kỳ  là một vị thuốc bổ khí, cố biễu được dùng với liều lượng chủ đạo nhằm tăng cường chính khí.  Ngoài ra, ở đây Hoàng kỳ còn có một số tác dụng hửu ích khác như lợi tiểu, hạ huyết áp và tăng cường sức bền của mạch máu.

Các món ăn từ cà tím chữa bệnh cao huyết áp

Ngày: 22-12-2010
Cà tím còn có tên khoa học là Solanum melongema. Trong các loại cà, đặc biệt cà tím dài là thực phẩm có từ 2.000 năm trước Công nguyên ở nhiều vùng nhiệt đới Á Phi. Cà tím được ưa chuộng vì chứa nhiều vitamin và ít calo. Cà có thể bung, luộc, nướng, xào, nấu, trộn… chung với nhiều gia vị và thức ăn khác mà không hề bị giảm chất lượng thực phẩm.


Các món ăn từ cà tím chữa bệnh cao huyết áp
Theo Đông y, cà tím, đã được ghi trong bản thảo cương mục và các y văn cổ, có tính năng cực hàn, thanh can, giáng hỏa, lợi tiểu, nhuận tràng, chỉ huyết, hóa đàm, thanh nhiệt, giải độc.
Cà tím được dùng làm thức ăn phòng chữa bệnh nếu là quả chín tới. Để phòng chữa xuất huyết đường tiêu hóa, hô hấp, tiết niệu, người dân nên ăn cà tím có nhiều vitamin P, C giúp làm vững chắc thành mạch chống chảy máu nói chung.
Nếu được  phối hợp với chanh, ngó sen, rau cần thì hiệu quả tăng cao, mạnh và nhanh hơn. Dưới đây là một số bài thuốc chữa bệnh có dùng cà tím:

1. Cà tím xào mã đề

Cà tím 200g, mã đề 15g, hành 10g, gừng 5g, tỏi 10g, dầu mè, nước tương (xì dầu) một lượng thích hợp. Cà rửa sạch, cắt miếng, mã đề làm sạch; Hành cắt khúc, gừng cắt lát; tỏi bỏ vỏ, cắt khô.
Để chảo nóng đổ dầu vào, chờ dầu nóng bỏ gừng, hành vào phi thơm rồi cho cà, mã đề vào trộn đều, bỏ muối và một ít nước vào xào chín là được. Mỗi ngày ăn một lần, có tác dụng thanh nhiệt, giải độc, lợi tiểu, hạ huyết áp.

2. Canh gà, cà tím

Gà giò 1 con, cà tím 200g, sơn tra 15g, gừng 5g, hành 10g, dầu, muối một lượng thích hợp. Gà làm sạch, bỏ nội tạng, cà tím rửa sạch, cắt miếng, gừng cắt lát; hành cắt khúc.
Để nồi nóng đổ dầu vào, cho gừng, hành vào phi thơm  rồi bỏ gà vào xào sơ. Tiếp đó, đổ nước vào, bỏ cà, sơn tra, muối vào, nấu sôi bằng lửa lớn, sau đó vặn lửa nhỏ nấu thêm chừng 30 phút là được. Mỗi ngày ăn một lần, dùng thay thức ăn, có tác dụng giảm mỡ, hạ huyết áp.

3. Cà tím nhồi om

Cà tím dài 3 quả nhỏ, nhân thịt chay 300g, sốt cà chua 15ml, dầu vừng 2 thìa, gia vị. Cà thái dọc làm hai nửa, bỏ ruột, ngâm nước muối, vớt ra vắt nhẹ cho ráo. Nhồi nhân thịt chay đã trộn gia vị, rán vàng phía nhồi nhân, xếp vào xoong. Tiếp đó xào hành, bột mì và sốt cà chua để om.
Theo http://cientosbeer.com

Các bài thuốc bí truyền chữa cao huyết áp

Ngày: 24-05-2005
Có thể cải thiện tình trạng cao huyết áp bằng món cháo rau cần: rau cần tươi (cả rễ) 50g rửa sạch, thái nhỏ, cho vào nấu cháo với 60g gạo tẻ. Mỗi ngày ăn vào buổi sáng và bữa tối. Ăn liền 7 ngày.

Ổn định huyết áp: Ngô thù du tán bột mịn, mỗi lần dùng 30g trộn với giấm ăn thành bột sền sệt; trước khi đi ngủ đắp thuốc vào huyệt dũng tuyền ở hai bàn chân, dùng băng gạc cố định lại. Mỗi ngày thay thuốc một lần. Đắp dán thuốc liên tục 3-5 lần thì huyết áp ổn định.
Trị bệnh tăng huyết áp: Đào nhân 12g, hạnh nhân 12g, chi tử 12g, hồ tiêu 4g, gạo nếp 14 hạt, lòng trắng trứng gà 1/3 trứng. Đem giã nát 5 vị thuốc, trộn 1/3 lòng trắng trứng vào cho đều, đắp dán thuốc vào huyệt dũng tuyền ở 2 lòng bàn chân vào mỗi buổi tối trước khi đi ngủ. Dùng gạc băng cố định lại, sáng hôm sau bỏ thuốc ra. Đắp dán 6 đêm liền. Nếu thấy da ở chỗ đắp dán thuốc có màu tím tái thì cũng đừng lo ngại.
Cách ngâm rửa chữa tăng huyết áp: Hạ khô thảo 30g, câu đằng 20 g, tăng diệp 20g, cúc hoa 20g. Nấu các vị trên với 2 lít nước sôi 15 phút. Để nước thuốc còn nóng 30-50 độ C, đổ vào thau. Ngâm 2 chân vào, đồng thời không ngừng vò kỹ 2 bàn chân vào nhau khoảng 30 phút. Ngày 1 lần.
Cháo thuốc: Mộc nhĩ đen ngâm nở, xé thành miếng nhỏ. Táo tàu ngâm qua nước sôi, rửa sạch thái nhỏ, bỏ hạt, cho ít đường vào trộn ngâm 20 phút. Mộc nhĩ đen và gạo tẻ nấu thành cháo xong cho táo tàu và nước đường vào nấu thêm 10 phút, ăn vào bữa điểm tâm và bữa tối.
Trà thuốc: Rau ngót 90%, chè xanh 10%, tán bột thô. Mỗi ngày dùng 50g, hãm với 1 lít nước sôi, uống cả ngày. Thuốc có công dụng tiêu mỡ thừa, hạ áp. Hoặc:
- Sơn tra 80%, lá sen 20%, tán bột thô, ngày dùng 30g, hãm với 1 lít nước sôi, uống cả ngày, dùng cho người béo phì, mỡ máu cao, cao huyết áp.
- Hoa cúc 40%, hoa hoè 30%, chè xanh 30%, tán bột thô. Ngày dùng 30g, hãm với một lít nước sôi, công dụng mát huyết, hạ áp, dành cho người xơ mỡ động mạch, huyết áp tăng.
- Chi tử 50%, chè xanh 50%, tán bột thô, ngày dùng 60g, hãm với 1 lít nước sôi, có công dụng mát huyết, hạ áp; chữa cao huyết áp, đau đầu, hoa mắt, chóng mặt.
- Cúc hoa 6g, hoa hoè 6g, chè xanh 6g, long đởm thảo 10g, hãm với 1 lít nước sôi, uống cả ngày, có công dụng giãn mạch, hạ áp, giảm cholesterol huyết.



Các bài thuốc Đông Y điều trị tăng huyết áp


Bài 1

Chữa tăng huyết áp ở bệnh nhân có vữa xơ động mạch, chóng mặt, ù tai: Thục địa 25g, hoài sơn 15g; phục linh, sơn thù du, mỗi vị 12g, mẫu đơn bì, lá dâu tằm, cúc hoa trắng, mỗi vị 10g. Sắc uống ngày 1 thang.

Các bài thuốc Đông Y điều trị tăng huyết áp

Bài 2

Chữa tăng huyết áp ở bệnh nhân có nhịp tim nhanh, ra mồ hôi, có hiện tượng ứ trệ huyết ở mạch máu ngoại biên: thục địa, mạch môn, đương quy, long đởm thảo, dành dành, hoàng liên, hoàng bá, thạch cao mỗi vị 30g; ngưu tất 25g; tri mẫu 10g, mộc hương 6g. Tất cả các vị tán bột, làm thành viên hoàn 0,5g. Mỗi lần uống 4 viên, ngày 3 lần.

Bài 3

Chữa tăng huyết áp ở bệnh nhân có bệnh cơ tim: phục linh 15g, bá tử nhân 12g; toan táo nhân (sao đen), thục địa, hoài sơn, đương quy mỗi vị 10g, mộc hương 6g, hoàng liên 3g. Sắc uống ngày 1 thang.

Bài 4

Chữa tăng huyết áp ở bệnh nhân mắc bệnh thận: phục linh, thục địa, hoài sơn, thạch hộc mỗi vị 12g; cúc hoa trắng, kỷ tử, sơn thù du, trạch tả, mỗi vị 10g, mẫu đơn bì 6g. Sắc uống ngày 1 thang.

Bài 5

Chữa tăng huyết áp ở bệnh nhân có giãn tim, chóng mặt, khó thở, ra mồ hôi, có biểu hiện ứ trệ huyết: mạch môn, hà thủ ô đỏ mỗi vị 15g; thục địa, đương quy, ngũ vị tử, toan táo nhân (sao đen), huyền sâm, mỗi vị 10g; phục linh, thạch xương bồ, cúc hoa trắng, cam thảo bắc, đảng sâm mỗi vị 6g; dành dành 3g. Sắc uống ngày 1 thang.

Bài 6

Chữa tăng huyết áp mức độ vừa: hoài sơn, tri mẫu, bắc sa sâm, huyền sâm, vỏ rễ dâu, mỗi vị 15g; thục địa, mẫu đơn bì, toan táo nhân  (sao đen), hà thủ ô đỏ mỗi vị 10g; phục linh, thạch xương bồ, đương quy, hoàng cầm mỗi vị 6g. Sắc uống ngày 1 thang.

Bài 7

Chữa tăng huyết áp ở người cao tuổi có vẻ mặt khoẻ mạnh: hạ khô thảo 30g; mẫu đơn bì, bạch thuợc mỗi vị 10g. Sắc uống ngày 1 thang. Có thể dùng trong thời gian dài.
GS. Đoàn Thị Nhu
Theo sức khỏe đời sống

Các món cháo chữa bệnh cao huyết áp

 Một loại mộc nhĩ trắng.

Chuẩn bị: mộc nhĩ trắng 10 g, mộc nhĩ đen 10 g, gạo tẻ 50-100 g, đường phèn vừa đủ. Ngâm mộc nhĩ cho nở ra, bỏ núm ở đế cuống, thái thành miếng nhỏ nấu với gạo tẻ thành cháo, khi chín cho đường phèn vào ăn hết trong ngày.

Đó là món cháo song nhĩ hạ áp. Sau đây là một số bài cháo thuốc khác, tất cả đều có tác dụng điều trị tích cực, không có tác dụng phụ:
- Cháo mộc nhĩ đen và táo tầu: Mộc nhĩ đen ngâm nước cho nở ra, xé thành miếng nhỏ, táo tàu rửa sạch bằng nước sôi, lọc bỏ hạt, trộn với đường, ngâm 20 phút. Cho mộc nhĩ đen và gạo tẻ vào cùng để nấu thành cháo. Sau đó cho táo tàu và đường đỏ vào nấu tiếp 10 phút, ăn bữa sáng và bữa tối.
- Cháo sa sâm: Sắn dây tươi 50 g, sa sâm 20 g, mạch đông 20 g, gạo tẻ 60 g. Rửa sạch sắn dây tươi, thái thành lát mỏng, cho nước vào xay cùng với sa sâm và mạch đông, gạn lấy bột, phơi khô. Cho bột này vào cháo gạo để ăn trong 1 ngày. Có thể làm một lượng lớn loại bột trên để ăn dần, ăn thường xuyên.
- Cháo bột ngô, xa tiền tử: Bột ngô lượng vừa đủ, xa tiền tử 15 g, gạo tẻ 60 g. Xa tiền tử gói lại, đem nấu lấy nước, bỏ bã, có thể cho thêm lượng nước vừa phải vào nấu cháo với gạo tẻ. Bột ngô ngâm nước lạnh cho nở ra rồi cho vào cháo nấu chín nhừ để ăn hằng ngày.
- Cháo quyết minh tử hạ áp: Quyết minh tử đem sao cho đến khi hơi bốc mùi thơm, để nguội rồi nấu với hoa cúc bạch lấy nước, bỏ bã. Cho gạo tẻ vào nước đó nấu thành cháo, khi cháo chín cho đường phèn vào, nấu sôi lại là được. Ăn mỗi ngày một lần, mỗi liệu trình kéo dài 5-7 ngày. Những bệnh nhân đang bị tiêu chảy tạm thời không nên dùng cháo này.
KHCN (theo Những bài thuốc bí truyền chữa cao huyết áp)

Chữa trị tăng huyết áp như thế nào?

Hai biện pháp: không dùng thuốc và dùng thuốc.

1. Biện pháp không dùng thuốc, gọi là thay đổi lối sống.

§   Bỏ hoặc không hút thuốc lá:
§   Ăn thanh tịnh: ăn lạt, ăn nhiều rau, ăn đủ lượng kali, ăn nhiều cá, ăn ít mỡ động vật.
§   Uống rượu bia ít và điều độ.
§   Giữa cân nặng chuẩn.
§   Rèn luyện thể lực mức độ trung bình: mỗi ngày 30-45 phút, tuần 180 phút như đi bộ nhanh (7 km/giờ), đi xe đạp nhanh, chạy, chơi bóng bàn.
§   Giữ bình thản.
Biện pháp thay đổi lối sống do người bệnh thực hiện.

2. Biện pháp dùng thuốc.

    Hiện nay có khoảng 300 loại thuốc chữa tăng huyết áp khác nhau và thầy thuốc sẽ căn cứ bệnh trạng cụ thể mà lựa chọn thuốc phù hợp nhất cho từng người. Mỗi viên thuốc có một số phận! Người bệnh không nên ỷ lại vào thuốc mà xem nhẹ hiệu quả thay đổi lối sống.
    Biện pháp dùng thuốc do thầy thuốc đảm nhận, người bệnh tuyệt đối không tuỳ tiện điều chỉnh!
    Biện pháp không dùng thuốc là cách thức chữa trị đầu tiên, bổ trợ và song hành với cách chữa bằng thuốc.

Nơi chữa trị.

    Do tính chất mạn tính, tốt nhất người bệnh nên chữa trị tại nơi mình cư trú. Đợt cấp thời, người bệnh chữa trị nội trú tại các cơ sở y tế chuyên khoa; sau đó tiếp tục chữa trị ngoại trú.

Lợi ích và thời gian chữa trị?

    Chữa trị làm giảm tối đa các biến chứng do tăng huyết áp, giảm chi phí và kéo dài tuổi thọ. Chữa trị càng sớm càng tốt!

Chữa trị tăng huyết áp là lâu dài.

    Không có khái niệm khỏi bệnh tăng huyết áp trừ phi những tăng huyết áp thứ phát như tăng huyết áp do hẹp động mạch thận, nong được động mạch hẹp thì hết tăng huyết áp.

Liệu chữa khỏi tăng huyết áp không?

    Chỉ có khái niệm đã khống chế được tăng huyết áp vì đây là bệnh kéo dài trừ phi tăng huyết áp mắc phải thì chữa khỏi.

Khi nào huyết áp xuống tới mức an toàn?

    Khi con số tăng huyết áp < (đọc là nhỏ hơn) 140/90 mm Hg thì gọi là điều trị ổn, lúc này mối nguy hiểm đã giảm nhiều. Ngưỡng này cao thấp tuỳ bệnh kèm theo cụ thể, ví dụ đái tháo đường và bệnh thận giai đoạn cuối thì ngưỡng an toàn là <130/80 mm Hg.

Làm sao để chữa trị tăng huyết áp đạt mức tối ưu.

Kiên trì thay đổi lối sống và tuân thủ thầy thuốc!
    Hãy hỏi thầy thuốc khi có bất cứ thắc mắc và khó chịu nào về bệnh tật. Liên tục tìm hiểu về tăng huyết áp để việc chữa trị tốt hơn (qua thầy thuốc, phương tiện truyền thông: sách báo, tivi, đài). Người bệnh và thầy thuốc thân tình với nhau thì việc khống chế tăng huyết áp tốt hơn.
10 loại thực phẩm lành mạnh cần có trong nhà bạn

Xúp lơ xanh chứa nhiều vitamin C.
Bạn chuẩn bị đi tới một hòn đảo hoang vắng trong vòng một tháng và được mang theo 10 loại đồ ăn lành mạnh, có khả năng cung cấp đầy đủ chất dinh dưỡng cho cơ thể. Bạn sẽ chọn những gì?
Bác sĩ Joey Shulman, chuyên gia dinh dưỡng của Canada, sẽ giúp bạn trả lời câu hỏi này. 10 loại "siêu thực phẩm" mà nữ bác sĩ đề xuất có thể được tìm thấy ở hầu hết các cửa hàng thực phẩm.
1. Đậu tương
Nghiên cứu cho thấy đậu tương chứa các chất nguồn gốc thực vật tên là isoflavone, giúp đẩy lùi bệnh tim mạch, ung thư và chứng loãng xương. Loại hạt bé nhỏ này là nguồn cung cấp protein tuyệt vời; nó chứa ít hoặc không chứa cholesterol và chất béo bão hòa.
2. Xúp lơ xanh (broccoli)
Thứ rau này rất giàu chất dinh dưỡng. Nó chứa các thành phần hóa học giúp ngăn ngừa sự phát triển của khối u và kích thích hệ miễn dịch của bạn. Đây là cũng là nguồn cung cấp vitamin C tuyệt hảo.
3. Cá hồi
Rất nhiều người ở Bắc Mỹ
4. Gạo lứcthiếu một chất béo thiết yếu là omega-3. Dầu của cá hồi và các loại cá nước lạnh khác (cá ngừ, cá thu, cá bơn...) chứa nhiều chất béo có ích này. Omega-3 giúp bảo vệ động mạch của bạn khỏi bị tấn công bởi những mảng xơ vữa, và rất hiệu quả trong giảm hàm lượng cholesterol xấu.  
Nếu muốn giảm cân, ruột khỏe mạnh và giảm cholesterol máu, hãy chọn gạo lức thay cho gạo trắng. Gạo này giàu chất xơ và vitamin B, axit folic, sắt, kali, kẽm và các yếu tố vi lượng.
5. Nước
Về kỹ thuật thì đây không phải thức ăn, nhưng cơ thể phụ thuộc hoàn toàn vào nuớc để sống sót. Mất nước là một trong những nguyên nhân chính của sự mệt mỏi và cứng cơ. Nếu uống đủ 6 cốc nước loại 200 ml mỗi ngày, bạn sẽ cảm thấy hoạt bát hơn nhiều. Da và tóc cũng được cải thiện rõ rệt. 
6. Các quả mọng (berry)
Các loại quả sặc sỡ như dâu tây (strawberry), mâm xôi (raspberry), nam việt quất (cranberry) chứa nhiều chất bảo vệ
Quả nam việt quất.
bạn khỏi bệnh ung thư, các vi khuẩn có hại như E.coli và bệnh nhiễm trùng tiết niệu.
7. Trứng omega-3
Ăn trứng này ở mức độ vừa phải, không quá 5 quả mỗi tuần, là cách tuyệt vời để đưa thêm chất béo có lợi vào cơ thể qua chế độ ăn. Loại trứng này hiện đã có bán ở phần lớn các cửa hàng thực phẩm của Canada.
8. Khoai lang
Đây là loại thực phẩm lành mạnh, dùng rất tốt để thay thế khoai tây trắng. Khoai lang chứa nhiều caroten, giúp bảo vệ bạn khỏi bệnh tim và ngăn ngừa sự phát triển của khối u. Để thu được nhiều caroten, có thể dùng các thực phẩm có màu da cam hoặc xanh khác như cà rốt, mơ, bí xanh, rau bina (spinach) và xúp lơ xanh.
9. Các loại hạt
Rất giàu omega-3, kẽm và sắt. Để có giá trị dinh dưỡng cao nhất, nên dùng hạt này ở dạng sống. Vừng, hạt bí ngô và hạt hướng dương là những thứ rất ngon có thể rắc lên trên món salad. 
10. Tỏi
Tuy có thể gây mùi khó chịu, tỏi là một chất chống nấm, chống vi khuẩn và virus rất mạnh. Nghiên cứu cho thấy tỏi làm giảm cholesterol và huyết áp. Để thu được nhiều lợi nhất, cần nghiền nát tỏi trước khi ăn.
Thu Thủy (theo doctorjoey.ca

 Một số thảo dược chữa bệnh cao huyết áp


Theo y học cổ truyền còn có rất nhiều thảo dược, nhiều loại cây quý có tác dụng hạ huyết áp. Bài viết dưới đây xin giới thiệu một số thảo dược thông dụng, dễ tìm.


1. Hoa hòe



Cách dùng: Hoa hòe 12g, quyết minh tử 6g, cam thảo nam 2g. Sắc uống ngày một thang. Đông y gọi hoa hòe là hòe mễ, mễ là hạt gạo, ý nói vị thuốc từ hoa hòe, có kích thước chỉ bằng hạt gạo, nghĩa là còn ở dạng nụ hoa, mới được dùng làm thuốc. Do vậy, ta phải thu hái hoa hòe, ngay từ khi nó còn là nụ hoa, là như vậy. Sau khi thu hái hoa hòe, người ta tuốt lấy nụ hoa, nhặt bỏ các cành con và lá còn sót lại, rồi đem sao. Trong hoa hòe có chứa rutin là hoạt chất chủ yếu, ngoài ra còn có Betulin.

Tác dụng sinh học của hoa hòe đã được chứng minh: Rutin – hoạt chất của hoa hòe có tác dụng giống như vitamin P nên có tác dụng làm bền và giảm tính thấm của mao mạch, giảm trương lực cơ trơn và chống co thắt, giảm tác dụng của adrenalin trong cơ thể. Trên thực tế lâm sàng, người ta thường dùng hoa hòe để dự phòng tai biến của bệnh xơ vữa động mạch và điều trị bệnh tăng huyết áp.

Ngoài ra còn dùng trong các trường hợp phụ nữ băng huyết, chảy máu cam, ho ra máu, tổn thương ngoài da do bức xạ, chống dị ứng, thấp khớp, làm vết thương chóng liền sẹo.

2. Cúc hoa vàng



Cách dùng: Cúc hoa 12g, quyết minh tử 12g sao thơm, lá dâu 6g, hòe hoa 6g, cam thảo nam 2g. Sắc uống ngày một thang, chia uống nhiều lần trong ngày.

Tên khoa học Chrysanthemun indicum L., C. boreale Ma và C. Lavandulaejolium (Fisch) Mak. Thường dùng hoa để làm thuốc. Trong hoa có chứa 3 glucosid và một số tinh dầu thơm.

Theo y học cổ truyền: Cúc hoa vị ngọt, đắng, tính hơi hàn. Vào các kinh phế, can, thận. Có tác dụng thanh nhiệt, giải độc, mát gan, sáng mắt. Thường được dùng để chữa các chứng phong nhiệt ở can kinh, mắt mờ, mắt đỏ sưng đau, hoa mắt chóng mặt. Liều dùng 4-24g.

Theo y học hiện đại: Dịch triết cồn cúc hoa vàng có tác dụng làm hạ huyết áp kéo dài thông qua tác dụng giãn mạch ngoại vi.

Trong thực tiễn lâm sàng, cúc hoa vàng làm giảm nhẹ các triệu chứng của bệnh tăng huyết áp như đau đầu, mất ngủ, choáng váng. Ngoài ra còn được sử dụng rộng rãi trong điều trị các bệnh cảm lạnh, viêm não, cảm cúm…

3. Ích mẫu



Cách dùng: Ích mẫu thảo 12g, lá dâu 12g, cam thảo nam 2g. Sắc uống ngày một thang.

Tên khoa học Leonurus Heterophyllus Sw. Còn có tên gọi sung úy, chói đèn. Thường dùng thân lá với tên ích mẫu thảo hoặc quả chín có tên gọi là sung úy tử. Là cây được trồng để làm thuốc và cũng mọc hoang ở nhiều nơi ven suối, ven sông.

Hoạt chất của ích mẫu gồm có flavonoid, trong đó có một chất được xác định là rutin. Ngoài ra còn có glucosid, steroid, tanin, tinh dầu… Trong quả có alkaloid là leonurin.

Tăng huyết áp là bệnh đang ngày càng có xu hướng gia tăng, đây được xem là một trong những nguyên nhân gây tử vong hàng đầu trên thế giới. 

Theo tài liệu cổ, ích mẫu vị cay, đắng, tính hơi hàn, có tác dụng trục ứ huyết, sinh huyết mới, hoạt huyết, điều kinh.

Liều dùng 6-12g dưới dạng thuốc sắc hoặc cao thuốc. Trong dân gian thường dùng ích mẫu để chữa các bệnh phụ nữ. Còn dùng để chữa bệnh huyết áp cao, bổ huyết, bệnh về mạch vành, rối loạn thần kinh tim, lỵ… Quả ích mẫu dùng để làm thuốc thông tiểu, phù thũng, thiên đầu thống…

Tác dụng sinh học của ích mẫu trên tim mạch đã được các nhà khoa học chứng minh. Cao lỏng ích mẫu có tác dụng làm hạ huyết áp thông qua cơ chế làm giảm tác dụng co mạch của adrenalin… Ngoài ra, ích mẫu còn có tác dụng tốt đối với cơ tim có bệnh. Tác dụng an thần của ích mẫu đã được ghi nhận. Một số vi khuẩn gây bệnh ngoài da cũng bị ức chế bởi ích mẫu… Liên Xô (cũ) đã áp dụng rượu thuốc ích mẫu điều trị tăng huyết áp, rối loạn thần kinh tim và làm thuốc an thần.

4. Cây xú ngô đồng




Cách dùng: Lá xú ngô đồng 12g, cúc hoa 12g, hoa hòe 6g, cam thảo nam 2g. Sắc uống ngày một thang.

Tên khoa học Clerodendrum trichotomum Thum, là tên gọi của một số cây như xích đồng nam (Clerodendrum squamatum Vahl) và cây bạch đồng nữ (Clerodendrum fragrns (Vent) Willd). Cây xích đồng nam còn có tên gọi: cây mò đỏ, bấn hoa đỏ.

Còn cây bạch đồng nữ còn có tên gọi: cây mò trắng, cây bấn trắng, vậy trắng.

Hai cây này thường dùng lá để làm thuốc, có thể dùng dưới dạng chè thuốc. Trong lá cây có chứa một số glucosid và alkaloid, acid…

Kinh nghiệm dân gian thường dùng lá bạch đồng nữ chữa các bệnh ghẻ lở, mụn nhọt, rửa chốc đầu… và chữa bệnh khí hư, bạch đới của phụ nữ với liều 15-20g lá khô sắc uống. Rễ xích đồng nam, bạch đồng nữ sắc uống có tác dụng chữa bệnh vàng da, vàng mắt.

Theo các nhà khoa học, lá xú ngô đồng có tác dụng hạ huyết áp. Các thí nghiệm trên động vật cho thấy huyết áp hạ rõ rệt.

Thực tiễn lâm sàng cho thấy lá xú ngô đồng được sử dụng để điều trị bệnh tăng huyết áp (sau 4-5 tuần dùng hàng ngày, huyết áp mới giảm có ý nghĩa). Liều dùng hàng ngày 9-16g, chia 3-4 lần uống. Chè lá còn có tác dụng an thần, giảm đau và chống viêm.

5. Đỗ trọng



Cách dùng: Đỗ trọng 100g, nhân sâm 12g. Ngâm với 1 lít rượu trắng 29,5 độ (rượu lúa mới). Ngày uống 2-3 lần, mỗi lần 5ml.

Hoặc: đỗ trọng 5-12g, sắc uống ngày một thang.

Hoặc: đỗ trọng 5-12g, cúc hoa 12g, hoa hòe 6g. Sắc uống ngày một thang.

Tên khoa học Cortex Eucommiae. Là vỏ của cây đỗ trọng, chưa thấy mọc hoang ở nước ta, hiện đã di thực được. Vị thuốc này ta vẫn còn phải nhập. Trong đỗ trọng, có các alkaloid, D.glucosid, resin, acid hữu cơ, albumin, tinh dầu, chất béo…

Theo tài liệu cổ, đỗ trọng có vị ngọt, hơi cay, tính ôn, vào 2 kinh can và thận. Có tác dụng bổ can thận, mạnh gân cốt, an thai, dùng chữa đau lưng, đi tiểu nhiều, chân gối yếu mềm.

Tác dụng sinh học của đỗ trọng trên tim mạch đã được chứng minh là tác dụng hạ huyết áp do ức chế trong tâm vận mạch ở hành tủy. Ngoài ra còn có tác dụng làm mạnh sự co bóp cơ tim, lợi tiểu… Liên Xô (cũ) đã chính thức công nhận đỗ trọng là vị thuốc dùng để điều trị bệnh tăng huyết áp, được dùng dưới dạng cao lỏng, thuốc sắc hoặc ngâm rượu.

Cần chú ý: liều thấp có tác dụng giãn mạch, liều cao lại gây co mạch.

Đỗ trọng có thể dùng để điều trị tăng huyết áp có biến chứng suy tim. Ngoài ra còn có thể chữa các bệnh đau lưng, ra mồ hôi trộm, phụ nữ hay sẩy thai, trẻ em kinh giản (co giật).

Theo_24h


5 món sinh tố giúp phòng trị cao huyết áp, tiểu đường


Ít người biết rằng ớt xanh Đà Lạt có tác dụng tốt cho những người béo phì trong việc ngăn chặn nguy cơ mắc các bệnh rối loạn chuyển hóa, chẳng hạn như tiểu đường. Nên thường xuyên dùng nó như một loại sinh tố.

Ớt xanh Đà Lạt chứa khá nhiều protid, đường, canxi, phospho, sắt, beta-caroten, vitamin B1, B2, PP. Nó là loại rau quả chứa nhiều vitamin C nhất. Các chất trong loại quả này có tác dụng kích thích tuyến dịch vị, gia tăng sự bài tiết, vì thế tăng cường tác dụng tiêu hóa. Ngoài ra, còn kích thích tim đập nhanh, làm tăng tốc tuần hoàn, có tác dụng làm ấm, ức chế tích tụ mỡ, phòng ngừa béo phì. Ớt tính nóng, vị cay, có tác dụng tán hàn, kiện vị, tiêu thực, trị đau bụng do lạnh, nôn ói, tả lỵ.
Một số loại sinh tố khác cũng có ích cho bệnh nhân tiểu đường và cao huyết áp:
Táo: Có hàm lượng đường fruitose cao nhất trong các loại trái cây. Ngoài ra, nó còn có acid malic, acid tannic, chất xơ, canxi, phospho, sắt, pectin, kali, lipid, protid và nhiều loại vitamin rất tốt cho cơ thể. Theo Đông y, táo tính mát, vị ngọt chua, có công hiệu kiện tỳ, ích vị, trị các chứng buồn nôn, chán ăn, bổ dưỡng tâm khí, dùng trong chứng tinh thần uể oải. Nó còn có tác dụng sinh tân, nhuận táo, chỉ khát, dùng trị ho, tâm phiền miệng khát do nhiệt. D
Táo còn có tác dụng hấp thu vi khuẩn và độc tố, trị tiêu chảy. Bên cạnh đó, chất xơ, acid hữu cơ lại kích thích đường ruột, làm mềm phân nên giúp đại tiện thông. Táo chứa chất kali có lợi cho việc bài tiết natri, tốt cho người cao huyết áp. Acid hữu cơ trong táo còn kích thích bài tiết dịch vị, trợ giúp tiêu hóa.
Mướp đắng: Chứa nhiều chất xơ thô, canxi, phospho, sắt, beta-caroten, vitamin B1, B2, PP, C, nhiều loại acid amin, 5-HT..., đều là những chất dinh dưỡng cần thiết cho cơ thể. Mướp đắng tính hàn, vị đắng, có công dụng dưỡng huyết, bổ gan, thanh nhiệt, sáng mắt, giải độc, dùng trị các chứng bệnh nhiệt phiền khát, trúng nắng phát sốt, kiết lỵ, ung nhọt, đau mắt đỏ do nhiệt... Các thử nghiệm đã chứng minh loại quả này chứa một chất tựa như insulin, làm giảm đường huyết rõ rệt, có thể dùng làm thuốc trị bệnh tiểu đường.
Cần tây Đà Lạt: Chứa canxi, sắt, phospho, giàu protid - gấp đôi so với các loại rau khác. Cần tây còn chứa nhiều acid amin tự do, tinh dầu, mannitol, inositol, nhiều loại vitamin, giúp tăng cảm giác thèm ăn, xúc tiến tuần hoàn máu và bổ não. Cần tây tính mát, vị ngọt, tác dụng thanh nhiệt, lợi thủy, trị đàm nhiều đầy ngực, lao hạch... Thử nghiệm đã chứng minh rau cần có tác dụng giảm áp rõ rệt, thời gian duy trì tùy theo liều lượng.
- Dưa leo: Chứa canxi, phospho, sắt, nhiều muối kali, chất nhầy, các acid amin, chất thơm, vitamin A, B1, B2, PP và C. Dưa leo tính mát, vị ngọt, tác dụng thanh nhiệt, tiêu viêm, lợi tiểu, trừ thấp, tiêu sưng.
Các món sinh tố trên đều có thể giúp phòng trị bệnh cao huyết áp và tiểu đường. Tuy nhiên, nên cách 3 ngày dùng 1 lần vì hầu hết các loại trái cây đều mang tính mát (trừ ớt xanh). Việc dùng quá nhiều sẽ gây mất cân bằng hàn - nhiệt của cơ thể. Nên dùng cả phần vỏ của các loại trái cây trên để giữ được đầy đủ các hoạt chất.
(Theo Sức Khỏe & Đời Sống)