Chủ Nhật, 20 tháng 11, 2011

XỬ LÝ CẤP CỨU VÀ ĐIỀU TRỊ DI CHỨNG TAI BIẾN MẠCH MÁU NÃO BẰNG Y HỌC CỔ TRUYỀN


XỬ LÝ CẤP CỨU VÀ ĐIỀU TRỊ DI CHỨNG TAI BIẾN MẠCH MÁU NÃO
BẰNG Y HỌC CỔ TRUYỀN

Lương y Võ Hà
Trong các chứng tai biến mạch não, việc chờ đợi người có chuyên môn cũng như việc xê dich, di chuyển người bệnh có thể làm trầm trọng thêm tình trạng xuất huyết hoặc tốn kém thời gian làm cho phần não bị hoại tử không thể hồi phục được.  Do đó, việc xử lý cấp cứu  kịp thời và đúng phương pháp có ý nghĩa quan trọng trong việc điều trị và  phục hồi hoàn toàn căn bệnh  nầy.

Tai biến mạch não là gì?

Tai biến mạch não còn gọi là đột qụy là một thể rối loạn tuần hoàn não cấp do việc cung cấp máu lên một phần não bị gián đoạn.  Bệnh thường xảy ra khi người bệnh trãi qua một sự thay đổi không khí đột ngột từ nóng sang lạnh, bị gió lùa, sau một nổ lực gắng sức, sau khi uống rượu hoặc bị một xúc động mạnh.  Tai biến não là một loại tổn thương nghiêm trọng mà nếu không được xử lý kịp thời có thể dẫn đến tử vong hoặc gây ra những di chứng nặng nề.  Việc gián đoạn dòng máu lên não có thể do vở mạch máu não hoặc do sự hình thành một cục máu đông hoặc do xơ vữa làm thuyên tắc mạch máu não.
 Triệu chứng.
Các triệu chứng thường xảy ra đột ngột.  Triệu chứng thần kinh xảy ra tương ứng với  khu vực não không được cung cấp máu.  Người bệnh có thể bị tê, yếu hoặc liệt hẳn ở một bên tay hoặc chân, đột nhiên giảm thị lực hoặc nói năng khó khăn, giảm khả năng phán đoán …  Có thể nhức đầu hoặc không.  Một số người có thể có một số dấu hiệu báo trước vài giờ hoặc vài ngày trước khi tai biến xảy ra.  Dấu hiệu nầy  có thể là buồn nôn, chóng mặt, tê bì một bên tay hay chân hoặc một  thoáng mất ý thức.  Để đơn giản và dễ nhớ cho tất cả mọi người, ở Mỹ người ta tóm tắt các triệu chứng của một người đang bị đột quỵ bằng 3 chử STR.  STR là 3 chử cái đầu của 3 từ Smile (mỉm cười), Talk (nói) và Raise (nâng lên).  Nhằm giảm thiểu tác hại của đột quỵ cũng như số người bị đột quỵ, mỗi người nên biết rõ STR và hãy xử lý cấp cứu hoặc chuyển viện ngay nếu nhận ra người bên cạnh mình đột nhiên có một trong 3 triệu chứng nầy:
·        Smile.  Hãy thử mỉm cười.  Người nầy không thể mỉm cười được.
·        Talk. Yêu cầu người đó nói một câu đơn giản,  Ví dụ: Hôm nay trời đẹp.  Người nầy không thể nói hoặc nói ngọng, nói không tròn tiếng.
·        Raise.  Hãy nâng 2 cánh tay hoặc 2 bàn tay lên.  Người nầy không thể nâng 2 cánh tay hoặc yếu hoặc liệt hẳn 1 bên.

Nguyên nhân.

Tai biến mạch não là một hội chứng thuộc phạm vi các chứng trúng phong của y học cỗ truyền.  Ở những người cao tuổi hoặc những người có khí chất suy yếu, chức năng các tạng Tâm , Can, Tỳ, Thận suy giảm, âm hư sinh đờm thấp.  Tai biến sẽ xảy ra đột ngột khi người có cơ địa nầy gặp phải phong tà bên ngoài hoặc những cảm xúc âm tính kích động Can dương gây ra Can phong nội động từ bên trong.  Phép chữa của Đông y thường phân ra chứng bế, chứng thoát, trúng phong kinh lạc hoặc trúng phong tạng phủ và tuỳ chứng mà điều trị bao gồm tức phong, thanh hoả, trừ đờm, khai khiếu nhằm giải toả chỗ ứ huyết và điều bổ cả khí lẫn huyết để đi đến cân bằng âm dương và tăng cường sức đề kháng để ốn định sức khoẻ về lâu dài.

Xử lý cấp cứu.

Trong các chứng tai biến về não, việc chờ đợi người có chuyên môn cũng như việc di chuyển, xê dịch người bệnh có thể làm trầm trọng thêm tình trạng xuất huyết hoặc tốn kém thời gian làm cho phần não thiếu dưỡng khí bị tổn thương không thể hồi phục được.  Do đó, việc xử lý cấp cứu kịp thời có ý nghĩa quan trọng trong việc phục hồi hoàn toàn tình trạng của người bệnh sau nầy.  Phương pháp sau đây được phổ biến theo kinh nghiệm của ông Ha bu Jing, một Bác sĩ người Trung quốc.  Đặc điểm của phương pháp là đơn giản, dễ nhớ, dễ làm, không bao gồm những phương huyệt phức tạp hoặc dụng cụ chuyên môn gì để mọi người đều có thể thực hành được ở bất cứ nơi đâu.  Theo phương pháp nầy, mỗi khi nhận ra một người đang có dấu hiệu đột quỵ, dù người đó đang còn ngồi, đứng hay đã quỵ xuống, đã hôn mê hay còn ý thức, người bên cạnh hãy bình tĩnh và thực hành lần lượt các bước sau đây trước khi chuyển họ đến cơ sở chuyên môn cần thiết:
·        Đặt bệnh nhân nằm xuống nhẹ nhàng.  Tránh tối đa việc xê dịch người bệnh để không làm trầm trọng thêm tình trạng xuất huyết.
·        Tìm ngay một cây kim khâu.  Hơ đầu kim vào lửa để sát trùng.
·        Lần lượt chích lễ 10 đầu ngón tay của người bệnh.  Dùng bàn tay trái giữ lấy  lóng  cuối chỗ gần đầu ngón tay  của người bệnh, dùng 3 ngón tay cái, trỏ và giữa của bàn tay phải cầm kim chích nhanh vào chỗ cao nhất của đầu ngón tay.  Rút kim ra và nặn nhẹ từ chỗ đã chích ra một hay hai  giọt máu.  Những đầu ngón tay là vị trí của Thập tuyên huyệt, nơi tập trung nhiều đầu dây thần kinh rất nhạy cảm.  Theo thuyếtphản xạ thần kinh cũng như thuyết toàn đồ, đầu ngón tay tương ứng với phần đầu của cơ thể và đỉnh nhọn của ngón tay ứng với huyệt Bách hộiở đỉnh đầu.  Ngoài ra, động tác chích lễ lại có tính “tả” và kích thích rất mạnh.   Do đó, có thể nói  chích lể các đầu ngón tay là biện pháp đặc hiệu  để kích thích tĩnh thần và khu phong hoá ứ ở khu vực đầu cũng như nảo bộ.  Động tác nầy vừa có thể ngăn chận hoặc phục hồi não từ tình trạng hôn mê lại vừa có thể loại bỏ tức thời yếu tố “phong”, nguyên nhân trực tiếp gây ra tai biến.  Mặt khác, tác động vào các đầu ngón tay cũng là gián tiếp tác động vào huyệt Bách hội nên có ý nghĩa kích hoạt sự thăng giáng cúa các đường kinh  dẫn đến thông kinh hoạt lạc, tiêu trệ hoá ứ, giúp giải quyết việc ứ huyết và điều hoà kinh khí toàn thân.
·        Đợi vài phút sau người bệnh sẽ tĩnh lại.
·        Nếu miệng hoặc mắt người bệnh còn méo lệch sang một bên hãy dùng ngón tay cái và ngón tay trỏ của 2 bàn tay vuốt cùng lúc cả 2 vành tay của người bệnh.  Vuốt từ trên xuống dưới. Vuốt nhẹ và vuốt liên tục nhiều lần cho đến khi 2 vành tay hồng đỏ lên..
·        Dùng bàn tay trái bóp nhẹ vào phần trên của vành tai người bệnh và chích vào chỗ cao nhất của vành tai  (huyệt Nhĩ tiêm).  Nặn ra một vài giọt máu.
Đến đây chúng ta có thể an tâm chuyển người bệnh đến cơ sở chuyên môn để được kiếm soát và chăm sóc các bước tiếp theo cho việc ổn định sức khoẻ lâu dài.  Hầu hết các trường hợp tai biến não được xử lý cấp cứu kịp thời theo phương pháp nầy đều trở lại bình thường.  Vấn đề còn lại là tuân thủ một chế độ sinh hoạt, ăn uống và luyện tập hợp lý để tăng cường sức đề kháng và kiểm soát các yếu tố nguy cơ có thể gây ra đột quỵ như cao huyết áp, cholesterol máu cao, béo phì, tiểu đường . .

Điều trị di chứng tai biến mạch não.

Trên thực tế nhiều trường hợp tai biến mạch não đã trải qua đột quỵ nhiều giờ hoặc nhiều ngày, đã được điều trị và để lại di chứng.  Trong những trường hợp nầy việc điều trị bằng Đông y kết hợp giữa châm cứu và dùng thuốc qua đối chứng lập phương có kết quả rất tích cực.  Tuy nhiên, phạm vi bài nầy sẽ chỉ đề cập đến 2 bài thuốc kinh nghiệm đặc trị đột quỵ với cùng một vị thuốc chủ lực. Đó là vị Địa long tức Trùn đất.  Địa long là một vị thuốc đã được xữ dụng trong y học dân gian từ lâu đời.  Địa long có vị mặn, tính hàn, vào 3 kinh Can, Tỳ , Thận, có tác dụng thanh nhiệt, lợi tiểu, giải độc.  Đặc biệt là tác dụng trấn kinh, làm tan ứ huyết, cải thiện  độ đàn hồi của mạch máu, nuôi dưỡng tế bào thần kinh và phục hồi trí nhớ  trong các chứng hôn mê do tai biến mạch nảo.  Từ năm 1911 các nhà khoa học Nhật bản đã tìm thấy trong Địa long có hoạt chất Lumbritin có tác dụng phá huyết ứ.  Gần đây tại nước ta, Tiến sĩ Nguyển thị Ngọc Dao  cũng đã công bố nghiên cứu về loài giun quế và cho biết trong các loài giun có chất enzym fibrinolytic có khả năng thuỷ phân rất mạnh các sợi fibrin -một loại protein trong máu- để làm tan các cục máu đông trong các chứng tai biến não.  Sau đây là 2 bài thuốc đặc trị di chứng tai biến não có sử dụng Địa long.

Thần dược cứu mệnh.

Toa thuốc và tên bài thuốc nầy xuất hiện từ khoảng đầu thể kỷ trước, được in lại trong quyển sách “Hai trăm bài thuốc quý” của ông Lê văn Tình vào năm 1940 với ghi chú là “chủ trị làm ban, ôn dịch và các bệnh nan y, công hiệu như thần, bệnh lui sau 60 phút”.  Sau nầy, bài thuốc  đã được ông Nguyển an Định, trưởng nam của  cụ Nguyển an Ninh cho phổ biến lại trên một số tờ báo.  Bài thuốc cũng đã được Bác sĩ Nguyển văn Hưởng, nguyên Bộ trưởng Bộ Y Tế cho phổ biến để sử dụng hửu hiệu trong đợt chống dịch sốt xuất huyết tại các tỉnh miền Bắc vào năm 1969. Cho đến nay bài thuốc đơn giản nầy đã cứu chữa và phục hồi cho rất nhiều trường hợp hôn mê do đột quỵ dù đã nhiều ngày trôi qua.  Trong một tài liệu được phổ biến vào năm 1997, ông Định cho biết “các dạng hôn mê do sốt xuất huyết hoặc tai biến mạch não chưa quá 10 ngày chỉ cần 3 thang, có khi chỉ 1 thang cũng hết bệnh”.  Bài thuốc nguyên thuỷ gồm 3 vị:
·        Địa long 50g (địa long phơi khô có bán sẳn ở các tiệm thuốc Bắc).
·        Đậu đen 100g.
·        Lá bồ ngót 200g (phơi khô, sao vàng).
Dùng khoảng 4 chén nước sắc còn độ hơn nửa chén, chia làm 2 lần cho người bệnh uống hoặc đổ vào miệng nếu đã bất tĩnh. Trong bài thuốc nầy ngoài Địa long còn có 2 vị đậu đen và lá bồ ngót.  Đậu đen và bồ ngót là 2 loại thức ăn thông dụng nhưng lại có giá trị bổ dưỡng rất cao, đặc biệt là những sinh tố và những acid amin thiết yếu cần thiết cho hoạt động của tế bào thần kinh.

Bổ dương hoàn ngủ thang.

Bổ dương hoàn ngủ thang là một cỗ phương chuyên trị các chứng trúng phong, tai biến mạch não.
  • Địa long 8g,
  • Hoàng kỳ 16g,
  • Đương quy vỉ 8g,
  • Xích thược 6g
  • Xuyên khung 4g,
  • Đào nhân 4g,
  • Hồng hoa 4g
Dùng khoảng 3 chén nước sắc còn hơn nữa chén, chia làm 2 lần cho người bệnh uống.  Trong bài thuốc nầy liều lượng của Địa long chỉ trung bình nhưng lại được sự phối hợp của 5 vị thuốc quen thuộc khác có tác dụng hành khí hoạt huyết để tạo nên kết quả làm tan máu ứ và khai thông kinh mạch.  Hoàng kỳ  là một vị thuốc bổ khí, cố biễu được dùng với liều lượng chủ đạo nhằm tăng cường chính khí.  Ngoài ra, ở đây Hoàng kỳ còn có một số tác dụng hửu ích khác như lợi tiểu, hạ huyết áp và tăng cường sức bền của mạch máu.

Các món ăn từ cà tím chữa bệnh cao huyết áp

Ngày: 22-12-2010
Cà tím còn có tên khoa học là Solanum melongema. Trong các loại cà, đặc biệt cà tím dài là thực phẩm có từ 2.000 năm trước Công nguyên ở nhiều vùng nhiệt đới Á Phi. Cà tím được ưa chuộng vì chứa nhiều vitamin và ít calo. Cà có thể bung, luộc, nướng, xào, nấu, trộn… chung với nhiều gia vị và thức ăn khác mà không hề bị giảm chất lượng thực phẩm.


Các món ăn từ cà tím chữa bệnh cao huyết áp
Theo Đông y, cà tím, đã được ghi trong bản thảo cương mục và các y văn cổ, có tính năng cực hàn, thanh can, giáng hỏa, lợi tiểu, nhuận tràng, chỉ huyết, hóa đàm, thanh nhiệt, giải độc.
Cà tím được dùng làm thức ăn phòng chữa bệnh nếu là quả chín tới. Để phòng chữa xuất huyết đường tiêu hóa, hô hấp, tiết niệu, người dân nên ăn cà tím có nhiều vitamin P, C giúp làm vững chắc thành mạch chống chảy máu nói chung.
Nếu được  phối hợp với chanh, ngó sen, rau cần thì hiệu quả tăng cao, mạnh và nhanh hơn. Dưới đây là một số bài thuốc chữa bệnh có dùng cà tím:

1. Cà tím xào mã đề

Cà tím 200g, mã đề 15g, hành 10g, gừng 5g, tỏi 10g, dầu mè, nước tương (xì dầu) một lượng thích hợp. Cà rửa sạch, cắt miếng, mã đề làm sạch; Hành cắt khúc, gừng cắt lát; tỏi bỏ vỏ, cắt khô.
Để chảo nóng đổ dầu vào, chờ dầu nóng bỏ gừng, hành vào phi thơm rồi cho cà, mã đề vào trộn đều, bỏ muối và một ít nước vào xào chín là được. Mỗi ngày ăn một lần, có tác dụng thanh nhiệt, giải độc, lợi tiểu, hạ huyết áp.

2. Canh gà, cà tím

Gà giò 1 con, cà tím 200g, sơn tra 15g, gừng 5g, hành 10g, dầu, muối một lượng thích hợp. Gà làm sạch, bỏ nội tạng, cà tím rửa sạch, cắt miếng, gừng cắt lát; hành cắt khúc.
Để nồi nóng đổ dầu vào, cho gừng, hành vào phi thơm  rồi bỏ gà vào xào sơ. Tiếp đó, đổ nước vào, bỏ cà, sơn tra, muối vào, nấu sôi bằng lửa lớn, sau đó vặn lửa nhỏ nấu thêm chừng 30 phút là được. Mỗi ngày ăn một lần, dùng thay thức ăn, có tác dụng giảm mỡ, hạ huyết áp.

3. Cà tím nhồi om

Cà tím dài 3 quả nhỏ, nhân thịt chay 300g, sốt cà chua 15ml, dầu vừng 2 thìa, gia vị. Cà thái dọc làm hai nửa, bỏ ruột, ngâm nước muối, vớt ra vắt nhẹ cho ráo. Nhồi nhân thịt chay đã trộn gia vị, rán vàng phía nhồi nhân, xếp vào xoong. Tiếp đó xào hành, bột mì và sốt cà chua để om.
Theo http://cientosbeer.com

Các bài thuốc bí truyền chữa cao huyết áp

Ngày: 24-05-2005
Có thể cải thiện tình trạng cao huyết áp bằng món cháo rau cần: rau cần tươi (cả rễ) 50g rửa sạch, thái nhỏ, cho vào nấu cháo với 60g gạo tẻ. Mỗi ngày ăn vào buổi sáng và bữa tối. Ăn liền 7 ngày.

Ổn định huyết áp: Ngô thù du tán bột mịn, mỗi lần dùng 30g trộn với giấm ăn thành bột sền sệt; trước khi đi ngủ đắp thuốc vào huyệt dũng tuyền ở hai bàn chân, dùng băng gạc cố định lại. Mỗi ngày thay thuốc một lần. Đắp dán thuốc liên tục 3-5 lần thì huyết áp ổn định.
Trị bệnh tăng huyết áp: Đào nhân 12g, hạnh nhân 12g, chi tử 12g, hồ tiêu 4g, gạo nếp 14 hạt, lòng trắng trứng gà 1/3 trứng. Đem giã nát 5 vị thuốc, trộn 1/3 lòng trắng trứng vào cho đều, đắp dán thuốc vào huyệt dũng tuyền ở 2 lòng bàn chân vào mỗi buổi tối trước khi đi ngủ. Dùng gạc băng cố định lại, sáng hôm sau bỏ thuốc ra. Đắp dán 6 đêm liền. Nếu thấy da ở chỗ đắp dán thuốc có màu tím tái thì cũng đừng lo ngại.
Cách ngâm rửa chữa tăng huyết áp: Hạ khô thảo 30g, câu đằng 20 g, tăng diệp 20g, cúc hoa 20g. Nấu các vị trên với 2 lít nước sôi 15 phút. Để nước thuốc còn nóng 30-50 độ C, đổ vào thau. Ngâm 2 chân vào, đồng thời không ngừng vò kỹ 2 bàn chân vào nhau khoảng 30 phút. Ngày 1 lần.
Cháo thuốc: Mộc nhĩ đen ngâm nở, xé thành miếng nhỏ. Táo tàu ngâm qua nước sôi, rửa sạch thái nhỏ, bỏ hạt, cho ít đường vào trộn ngâm 20 phút. Mộc nhĩ đen và gạo tẻ nấu thành cháo xong cho táo tàu và nước đường vào nấu thêm 10 phút, ăn vào bữa điểm tâm và bữa tối.
Trà thuốc: Rau ngót 90%, chè xanh 10%, tán bột thô. Mỗi ngày dùng 50g, hãm với 1 lít nước sôi, uống cả ngày. Thuốc có công dụng tiêu mỡ thừa, hạ áp. Hoặc:
- Sơn tra 80%, lá sen 20%, tán bột thô, ngày dùng 30g, hãm với 1 lít nước sôi, uống cả ngày, dùng cho người béo phì, mỡ máu cao, cao huyết áp.
- Hoa cúc 40%, hoa hoè 30%, chè xanh 30%, tán bột thô. Ngày dùng 30g, hãm với một lít nước sôi, công dụng mát huyết, hạ áp, dành cho người xơ mỡ động mạch, huyết áp tăng.
- Chi tử 50%, chè xanh 50%, tán bột thô, ngày dùng 60g, hãm với 1 lít nước sôi, có công dụng mát huyết, hạ áp; chữa cao huyết áp, đau đầu, hoa mắt, chóng mặt.
- Cúc hoa 6g, hoa hoè 6g, chè xanh 6g, long đởm thảo 10g, hãm với 1 lít nước sôi, uống cả ngày, có công dụng giãn mạch, hạ áp, giảm cholesterol huyết.



Các bài thuốc Đông Y điều trị tăng huyết áp


Bài 1

Chữa tăng huyết áp ở bệnh nhân có vữa xơ động mạch, chóng mặt, ù tai: Thục địa 25g, hoài sơn 15g; phục linh, sơn thù du, mỗi vị 12g, mẫu đơn bì, lá dâu tằm, cúc hoa trắng, mỗi vị 10g. Sắc uống ngày 1 thang.

Các bài thuốc Đông Y điều trị tăng huyết áp

Bài 2

Chữa tăng huyết áp ở bệnh nhân có nhịp tim nhanh, ra mồ hôi, có hiện tượng ứ trệ huyết ở mạch máu ngoại biên: thục địa, mạch môn, đương quy, long đởm thảo, dành dành, hoàng liên, hoàng bá, thạch cao mỗi vị 30g; ngưu tất 25g; tri mẫu 10g, mộc hương 6g. Tất cả các vị tán bột, làm thành viên hoàn 0,5g. Mỗi lần uống 4 viên, ngày 3 lần.

Bài 3

Chữa tăng huyết áp ở bệnh nhân có bệnh cơ tim: phục linh 15g, bá tử nhân 12g; toan táo nhân (sao đen), thục địa, hoài sơn, đương quy mỗi vị 10g, mộc hương 6g, hoàng liên 3g. Sắc uống ngày 1 thang.

Bài 4

Chữa tăng huyết áp ở bệnh nhân mắc bệnh thận: phục linh, thục địa, hoài sơn, thạch hộc mỗi vị 12g; cúc hoa trắng, kỷ tử, sơn thù du, trạch tả, mỗi vị 10g, mẫu đơn bì 6g. Sắc uống ngày 1 thang.

Bài 5

Chữa tăng huyết áp ở bệnh nhân có giãn tim, chóng mặt, khó thở, ra mồ hôi, có biểu hiện ứ trệ huyết: mạch môn, hà thủ ô đỏ mỗi vị 15g; thục địa, đương quy, ngũ vị tử, toan táo nhân (sao đen), huyền sâm, mỗi vị 10g; phục linh, thạch xương bồ, cúc hoa trắng, cam thảo bắc, đảng sâm mỗi vị 6g; dành dành 3g. Sắc uống ngày 1 thang.

Bài 6

Chữa tăng huyết áp mức độ vừa: hoài sơn, tri mẫu, bắc sa sâm, huyền sâm, vỏ rễ dâu, mỗi vị 15g; thục địa, mẫu đơn bì, toan táo nhân  (sao đen), hà thủ ô đỏ mỗi vị 10g; phục linh, thạch xương bồ, đương quy, hoàng cầm mỗi vị 6g. Sắc uống ngày 1 thang.

Bài 7

Chữa tăng huyết áp ở người cao tuổi có vẻ mặt khoẻ mạnh: hạ khô thảo 30g; mẫu đơn bì, bạch thuợc mỗi vị 10g. Sắc uống ngày 1 thang. Có thể dùng trong thời gian dài.
GS. Đoàn Thị Nhu
Theo sức khỏe đời sống

Các món cháo chữa bệnh cao huyết áp

 Một loại mộc nhĩ trắng.

Chuẩn bị: mộc nhĩ trắng 10 g, mộc nhĩ đen 10 g, gạo tẻ 50-100 g, đường phèn vừa đủ. Ngâm mộc nhĩ cho nở ra, bỏ núm ở đế cuống, thái thành miếng nhỏ nấu với gạo tẻ thành cháo, khi chín cho đường phèn vào ăn hết trong ngày.

Đó là món cháo song nhĩ hạ áp. Sau đây là một số bài cháo thuốc khác, tất cả đều có tác dụng điều trị tích cực, không có tác dụng phụ:
- Cháo mộc nhĩ đen và táo tầu: Mộc nhĩ đen ngâm nước cho nở ra, xé thành miếng nhỏ, táo tàu rửa sạch bằng nước sôi, lọc bỏ hạt, trộn với đường, ngâm 20 phút. Cho mộc nhĩ đen và gạo tẻ vào cùng để nấu thành cháo. Sau đó cho táo tàu và đường đỏ vào nấu tiếp 10 phút, ăn bữa sáng và bữa tối.
- Cháo sa sâm: Sắn dây tươi 50 g, sa sâm 20 g, mạch đông 20 g, gạo tẻ 60 g. Rửa sạch sắn dây tươi, thái thành lát mỏng, cho nước vào xay cùng với sa sâm và mạch đông, gạn lấy bột, phơi khô. Cho bột này vào cháo gạo để ăn trong 1 ngày. Có thể làm một lượng lớn loại bột trên để ăn dần, ăn thường xuyên.
- Cháo bột ngô, xa tiền tử: Bột ngô lượng vừa đủ, xa tiền tử 15 g, gạo tẻ 60 g. Xa tiền tử gói lại, đem nấu lấy nước, bỏ bã, có thể cho thêm lượng nước vừa phải vào nấu cháo với gạo tẻ. Bột ngô ngâm nước lạnh cho nở ra rồi cho vào cháo nấu chín nhừ để ăn hằng ngày.
- Cháo quyết minh tử hạ áp: Quyết minh tử đem sao cho đến khi hơi bốc mùi thơm, để nguội rồi nấu với hoa cúc bạch lấy nước, bỏ bã. Cho gạo tẻ vào nước đó nấu thành cháo, khi cháo chín cho đường phèn vào, nấu sôi lại là được. Ăn mỗi ngày một lần, mỗi liệu trình kéo dài 5-7 ngày. Những bệnh nhân đang bị tiêu chảy tạm thời không nên dùng cháo này.
KHCN (theo Những bài thuốc bí truyền chữa cao huyết áp)

Chữa trị tăng huyết áp như thế nào?

Hai biện pháp: không dùng thuốc và dùng thuốc.

1. Biện pháp không dùng thuốc, gọi là thay đổi lối sống.

§   Bỏ hoặc không hút thuốc lá:
§   Ăn thanh tịnh: ăn lạt, ăn nhiều rau, ăn đủ lượng kali, ăn nhiều cá, ăn ít mỡ động vật.
§   Uống rượu bia ít và điều độ.
§   Giữa cân nặng chuẩn.
§   Rèn luyện thể lực mức độ trung bình: mỗi ngày 30-45 phút, tuần 180 phút như đi bộ nhanh (7 km/giờ), đi xe đạp nhanh, chạy, chơi bóng bàn.
§   Giữ bình thản.
Biện pháp thay đổi lối sống do người bệnh thực hiện.

2. Biện pháp dùng thuốc.

    Hiện nay có khoảng 300 loại thuốc chữa tăng huyết áp khác nhau và thầy thuốc sẽ căn cứ bệnh trạng cụ thể mà lựa chọn thuốc phù hợp nhất cho từng người. Mỗi viên thuốc có một số phận! Người bệnh không nên ỷ lại vào thuốc mà xem nhẹ hiệu quả thay đổi lối sống.
    Biện pháp dùng thuốc do thầy thuốc đảm nhận, người bệnh tuyệt đối không tuỳ tiện điều chỉnh!
    Biện pháp không dùng thuốc là cách thức chữa trị đầu tiên, bổ trợ và song hành với cách chữa bằng thuốc.

Nơi chữa trị.

    Do tính chất mạn tính, tốt nhất người bệnh nên chữa trị tại nơi mình cư trú. Đợt cấp thời, người bệnh chữa trị nội trú tại các cơ sở y tế chuyên khoa; sau đó tiếp tục chữa trị ngoại trú.

Lợi ích và thời gian chữa trị?

    Chữa trị làm giảm tối đa các biến chứng do tăng huyết áp, giảm chi phí và kéo dài tuổi thọ. Chữa trị càng sớm càng tốt!

Chữa trị tăng huyết áp là lâu dài.

    Không có khái niệm khỏi bệnh tăng huyết áp trừ phi những tăng huyết áp thứ phát như tăng huyết áp do hẹp động mạch thận, nong được động mạch hẹp thì hết tăng huyết áp.

Liệu chữa khỏi tăng huyết áp không?

    Chỉ có khái niệm đã khống chế được tăng huyết áp vì đây là bệnh kéo dài trừ phi tăng huyết áp mắc phải thì chữa khỏi.

Khi nào huyết áp xuống tới mức an toàn?

    Khi con số tăng huyết áp < (đọc là nhỏ hơn) 140/90 mm Hg thì gọi là điều trị ổn, lúc này mối nguy hiểm đã giảm nhiều. Ngưỡng này cao thấp tuỳ bệnh kèm theo cụ thể, ví dụ đái tháo đường và bệnh thận giai đoạn cuối thì ngưỡng an toàn là <130/80 mm Hg.

Làm sao để chữa trị tăng huyết áp đạt mức tối ưu.

Kiên trì thay đổi lối sống và tuân thủ thầy thuốc!
    Hãy hỏi thầy thuốc khi có bất cứ thắc mắc và khó chịu nào về bệnh tật. Liên tục tìm hiểu về tăng huyết áp để việc chữa trị tốt hơn (qua thầy thuốc, phương tiện truyền thông: sách báo, tivi, đài). Người bệnh và thầy thuốc thân tình với nhau thì việc khống chế tăng huyết áp tốt hơn.
10 loại thực phẩm lành mạnh cần có trong nhà bạn

Xúp lơ xanh chứa nhiều vitamin C.
Bạn chuẩn bị đi tới một hòn đảo hoang vắng trong vòng một tháng và được mang theo 10 loại đồ ăn lành mạnh, có khả năng cung cấp đầy đủ chất dinh dưỡng cho cơ thể. Bạn sẽ chọn những gì?
Bác sĩ Joey Shulman, chuyên gia dinh dưỡng của Canada, sẽ giúp bạn trả lời câu hỏi này. 10 loại "siêu thực phẩm" mà nữ bác sĩ đề xuất có thể được tìm thấy ở hầu hết các cửa hàng thực phẩm.
1. Đậu tương
Nghiên cứu cho thấy đậu tương chứa các chất nguồn gốc thực vật tên là isoflavone, giúp đẩy lùi bệnh tim mạch, ung thư và chứng loãng xương. Loại hạt bé nhỏ này là nguồn cung cấp protein tuyệt vời; nó chứa ít hoặc không chứa cholesterol và chất béo bão hòa.
2. Xúp lơ xanh (broccoli)
Thứ rau này rất giàu chất dinh dưỡng. Nó chứa các thành phần hóa học giúp ngăn ngừa sự phát triển của khối u và kích thích hệ miễn dịch của bạn. Đây là cũng là nguồn cung cấp vitamin C tuyệt hảo.
3. Cá hồi
Rất nhiều người ở Bắc Mỹ
4. Gạo lứcthiếu một chất béo thiết yếu là omega-3. Dầu của cá hồi và các loại cá nước lạnh khác (cá ngừ, cá thu, cá bơn...) chứa nhiều chất béo có ích này. Omega-3 giúp bảo vệ động mạch của bạn khỏi bị tấn công bởi những mảng xơ vữa, và rất hiệu quả trong giảm hàm lượng cholesterol xấu.  
Nếu muốn giảm cân, ruột khỏe mạnh và giảm cholesterol máu, hãy chọn gạo lức thay cho gạo trắng. Gạo này giàu chất xơ và vitamin B, axit folic, sắt, kali, kẽm và các yếu tố vi lượng.
5. Nước
Về kỹ thuật thì đây không phải thức ăn, nhưng cơ thể phụ thuộc hoàn toàn vào nuớc để sống sót. Mất nước là một trong những nguyên nhân chính của sự mệt mỏi và cứng cơ. Nếu uống đủ 6 cốc nước loại 200 ml mỗi ngày, bạn sẽ cảm thấy hoạt bát hơn nhiều. Da và tóc cũng được cải thiện rõ rệt. 
6. Các quả mọng (berry)
Các loại quả sặc sỡ như dâu tây (strawberry), mâm xôi (raspberry), nam việt quất (cranberry) chứa nhiều chất bảo vệ
Quả nam việt quất.
bạn khỏi bệnh ung thư, các vi khuẩn có hại như E.coli và bệnh nhiễm trùng tiết niệu.
7. Trứng omega-3
Ăn trứng này ở mức độ vừa phải, không quá 5 quả mỗi tuần, là cách tuyệt vời để đưa thêm chất béo có lợi vào cơ thể qua chế độ ăn. Loại trứng này hiện đã có bán ở phần lớn các cửa hàng thực phẩm của Canada.
8. Khoai lang
Đây là loại thực phẩm lành mạnh, dùng rất tốt để thay thế khoai tây trắng. Khoai lang chứa nhiều caroten, giúp bảo vệ bạn khỏi bệnh tim và ngăn ngừa sự phát triển của khối u. Để thu được nhiều caroten, có thể dùng các thực phẩm có màu da cam hoặc xanh khác như cà rốt, mơ, bí xanh, rau bina (spinach) và xúp lơ xanh.
9. Các loại hạt
Rất giàu omega-3, kẽm và sắt. Để có giá trị dinh dưỡng cao nhất, nên dùng hạt này ở dạng sống. Vừng, hạt bí ngô và hạt hướng dương là những thứ rất ngon có thể rắc lên trên món salad. 
10. Tỏi
Tuy có thể gây mùi khó chịu, tỏi là một chất chống nấm, chống vi khuẩn và virus rất mạnh. Nghiên cứu cho thấy tỏi làm giảm cholesterol và huyết áp. Để thu được nhiều lợi nhất, cần nghiền nát tỏi trước khi ăn.
Thu Thủy (theo doctorjoey.ca

 Một số thảo dược chữa bệnh cao huyết áp


Theo y học cổ truyền còn có rất nhiều thảo dược, nhiều loại cây quý có tác dụng hạ huyết áp. Bài viết dưới đây xin giới thiệu một số thảo dược thông dụng, dễ tìm.


1. Hoa hòe



Cách dùng: Hoa hòe 12g, quyết minh tử 6g, cam thảo nam 2g. Sắc uống ngày một thang. Đông y gọi hoa hòe là hòe mễ, mễ là hạt gạo, ý nói vị thuốc từ hoa hòe, có kích thước chỉ bằng hạt gạo, nghĩa là còn ở dạng nụ hoa, mới được dùng làm thuốc. Do vậy, ta phải thu hái hoa hòe, ngay từ khi nó còn là nụ hoa, là như vậy. Sau khi thu hái hoa hòe, người ta tuốt lấy nụ hoa, nhặt bỏ các cành con và lá còn sót lại, rồi đem sao. Trong hoa hòe có chứa rutin là hoạt chất chủ yếu, ngoài ra còn có Betulin.

Tác dụng sinh học của hoa hòe đã được chứng minh: Rutin – hoạt chất của hoa hòe có tác dụng giống như vitamin P nên có tác dụng làm bền và giảm tính thấm của mao mạch, giảm trương lực cơ trơn và chống co thắt, giảm tác dụng của adrenalin trong cơ thể. Trên thực tế lâm sàng, người ta thường dùng hoa hòe để dự phòng tai biến của bệnh xơ vữa động mạch và điều trị bệnh tăng huyết áp.

Ngoài ra còn dùng trong các trường hợp phụ nữ băng huyết, chảy máu cam, ho ra máu, tổn thương ngoài da do bức xạ, chống dị ứng, thấp khớp, làm vết thương chóng liền sẹo.

2. Cúc hoa vàng



Cách dùng: Cúc hoa 12g, quyết minh tử 12g sao thơm, lá dâu 6g, hòe hoa 6g, cam thảo nam 2g. Sắc uống ngày một thang, chia uống nhiều lần trong ngày.

Tên khoa học Chrysanthemun indicum L., C. boreale Ma và C. Lavandulaejolium (Fisch) Mak. Thường dùng hoa để làm thuốc. Trong hoa có chứa 3 glucosid và một số tinh dầu thơm.

Theo y học cổ truyền: Cúc hoa vị ngọt, đắng, tính hơi hàn. Vào các kinh phế, can, thận. Có tác dụng thanh nhiệt, giải độc, mát gan, sáng mắt. Thường được dùng để chữa các chứng phong nhiệt ở can kinh, mắt mờ, mắt đỏ sưng đau, hoa mắt chóng mặt. Liều dùng 4-24g.

Theo y học hiện đại: Dịch triết cồn cúc hoa vàng có tác dụng làm hạ huyết áp kéo dài thông qua tác dụng giãn mạch ngoại vi.

Trong thực tiễn lâm sàng, cúc hoa vàng làm giảm nhẹ các triệu chứng của bệnh tăng huyết áp như đau đầu, mất ngủ, choáng váng. Ngoài ra còn được sử dụng rộng rãi trong điều trị các bệnh cảm lạnh, viêm não, cảm cúm…

3. Ích mẫu



Cách dùng: Ích mẫu thảo 12g, lá dâu 12g, cam thảo nam 2g. Sắc uống ngày một thang.

Tên khoa học Leonurus Heterophyllus Sw. Còn có tên gọi sung úy, chói đèn. Thường dùng thân lá với tên ích mẫu thảo hoặc quả chín có tên gọi là sung úy tử. Là cây được trồng để làm thuốc và cũng mọc hoang ở nhiều nơi ven suối, ven sông.

Hoạt chất của ích mẫu gồm có flavonoid, trong đó có một chất được xác định là rutin. Ngoài ra còn có glucosid, steroid, tanin, tinh dầu… Trong quả có alkaloid là leonurin.

Tăng huyết áp là bệnh đang ngày càng có xu hướng gia tăng, đây được xem là một trong những nguyên nhân gây tử vong hàng đầu trên thế giới. 

Theo tài liệu cổ, ích mẫu vị cay, đắng, tính hơi hàn, có tác dụng trục ứ huyết, sinh huyết mới, hoạt huyết, điều kinh.

Liều dùng 6-12g dưới dạng thuốc sắc hoặc cao thuốc. Trong dân gian thường dùng ích mẫu để chữa các bệnh phụ nữ. Còn dùng để chữa bệnh huyết áp cao, bổ huyết, bệnh về mạch vành, rối loạn thần kinh tim, lỵ… Quả ích mẫu dùng để làm thuốc thông tiểu, phù thũng, thiên đầu thống…

Tác dụng sinh học của ích mẫu trên tim mạch đã được các nhà khoa học chứng minh. Cao lỏng ích mẫu có tác dụng làm hạ huyết áp thông qua cơ chế làm giảm tác dụng co mạch của adrenalin… Ngoài ra, ích mẫu còn có tác dụng tốt đối với cơ tim có bệnh. Tác dụng an thần của ích mẫu đã được ghi nhận. Một số vi khuẩn gây bệnh ngoài da cũng bị ức chế bởi ích mẫu… Liên Xô (cũ) đã áp dụng rượu thuốc ích mẫu điều trị tăng huyết áp, rối loạn thần kinh tim và làm thuốc an thần.

4. Cây xú ngô đồng




Cách dùng: Lá xú ngô đồng 12g, cúc hoa 12g, hoa hòe 6g, cam thảo nam 2g. Sắc uống ngày một thang.

Tên khoa học Clerodendrum trichotomum Thum, là tên gọi của một số cây như xích đồng nam (Clerodendrum squamatum Vahl) và cây bạch đồng nữ (Clerodendrum fragrns (Vent) Willd). Cây xích đồng nam còn có tên gọi: cây mò đỏ, bấn hoa đỏ.

Còn cây bạch đồng nữ còn có tên gọi: cây mò trắng, cây bấn trắng, vậy trắng.

Hai cây này thường dùng lá để làm thuốc, có thể dùng dưới dạng chè thuốc. Trong lá cây có chứa một số glucosid và alkaloid, acid…

Kinh nghiệm dân gian thường dùng lá bạch đồng nữ chữa các bệnh ghẻ lở, mụn nhọt, rửa chốc đầu… và chữa bệnh khí hư, bạch đới của phụ nữ với liều 15-20g lá khô sắc uống. Rễ xích đồng nam, bạch đồng nữ sắc uống có tác dụng chữa bệnh vàng da, vàng mắt.

Theo các nhà khoa học, lá xú ngô đồng có tác dụng hạ huyết áp. Các thí nghiệm trên động vật cho thấy huyết áp hạ rõ rệt.

Thực tiễn lâm sàng cho thấy lá xú ngô đồng được sử dụng để điều trị bệnh tăng huyết áp (sau 4-5 tuần dùng hàng ngày, huyết áp mới giảm có ý nghĩa). Liều dùng hàng ngày 9-16g, chia 3-4 lần uống. Chè lá còn có tác dụng an thần, giảm đau và chống viêm.

5. Đỗ trọng



Cách dùng: Đỗ trọng 100g, nhân sâm 12g. Ngâm với 1 lít rượu trắng 29,5 độ (rượu lúa mới). Ngày uống 2-3 lần, mỗi lần 5ml.

Hoặc: đỗ trọng 5-12g, sắc uống ngày một thang.

Hoặc: đỗ trọng 5-12g, cúc hoa 12g, hoa hòe 6g. Sắc uống ngày một thang.

Tên khoa học Cortex Eucommiae. Là vỏ của cây đỗ trọng, chưa thấy mọc hoang ở nước ta, hiện đã di thực được. Vị thuốc này ta vẫn còn phải nhập. Trong đỗ trọng, có các alkaloid, D.glucosid, resin, acid hữu cơ, albumin, tinh dầu, chất béo…

Theo tài liệu cổ, đỗ trọng có vị ngọt, hơi cay, tính ôn, vào 2 kinh can và thận. Có tác dụng bổ can thận, mạnh gân cốt, an thai, dùng chữa đau lưng, đi tiểu nhiều, chân gối yếu mềm.

Tác dụng sinh học của đỗ trọng trên tim mạch đã được chứng minh là tác dụng hạ huyết áp do ức chế trong tâm vận mạch ở hành tủy. Ngoài ra còn có tác dụng làm mạnh sự co bóp cơ tim, lợi tiểu… Liên Xô (cũ) đã chính thức công nhận đỗ trọng là vị thuốc dùng để điều trị bệnh tăng huyết áp, được dùng dưới dạng cao lỏng, thuốc sắc hoặc ngâm rượu.

Cần chú ý: liều thấp có tác dụng giãn mạch, liều cao lại gây co mạch.

Đỗ trọng có thể dùng để điều trị tăng huyết áp có biến chứng suy tim. Ngoài ra còn có thể chữa các bệnh đau lưng, ra mồ hôi trộm, phụ nữ hay sẩy thai, trẻ em kinh giản (co giật).

Theo_24h


5 món sinh tố giúp phòng trị cao huyết áp, tiểu đường


Ít người biết rằng ớt xanh Đà Lạt có tác dụng tốt cho những người béo phì trong việc ngăn chặn nguy cơ mắc các bệnh rối loạn chuyển hóa, chẳng hạn như tiểu đường. Nên thường xuyên dùng nó như một loại sinh tố.

Ớt xanh Đà Lạt chứa khá nhiều protid, đường, canxi, phospho, sắt, beta-caroten, vitamin B1, B2, PP. Nó là loại rau quả chứa nhiều vitamin C nhất. Các chất trong loại quả này có tác dụng kích thích tuyến dịch vị, gia tăng sự bài tiết, vì thế tăng cường tác dụng tiêu hóa. Ngoài ra, còn kích thích tim đập nhanh, làm tăng tốc tuần hoàn, có tác dụng làm ấm, ức chế tích tụ mỡ, phòng ngừa béo phì. Ớt tính nóng, vị cay, có tác dụng tán hàn, kiện vị, tiêu thực, trị đau bụng do lạnh, nôn ói, tả lỵ.
Một số loại sinh tố khác cũng có ích cho bệnh nhân tiểu đường và cao huyết áp:
Táo: Có hàm lượng đường fruitose cao nhất trong các loại trái cây. Ngoài ra, nó còn có acid malic, acid tannic, chất xơ, canxi, phospho, sắt, pectin, kali, lipid, protid và nhiều loại vitamin rất tốt cho cơ thể. Theo Đông y, táo tính mát, vị ngọt chua, có công hiệu kiện tỳ, ích vị, trị các chứng buồn nôn, chán ăn, bổ dưỡng tâm khí, dùng trong chứng tinh thần uể oải. Nó còn có tác dụng sinh tân, nhuận táo, chỉ khát, dùng trị ho, tâm phiền miệng khát do nhiệt. D
Táo còn có tác dụng hấp thu vi khuẩn và độc tố, trị tiêu chảy. Bên cạnh đó, chất xơ, acid hữu cơ lại kích thích đường ruột, làm mềm phân nên giúp đại tiện thông. Táo chứa chất kali có lợi cho việc bài tiết natri, tốt cho người cao huyết áp. Acid hữu cơ trong táo còn kích thích bài tiết dịch vị, trợ giúp tiêu hóa.
Mướp đắng: Chứa nhiều chất xơ thô, canxi, phospho, sắt, beta-caroten, vitamin B1, B2, PP, C, nhiều loại acid amin, 5-HT..., đều là những chất dinh dưỡng cần thiết cho cơ thể. Mướp đắng tính hàn, vị đắng, có công dụng dưỡng huyết, bổ gan, thanh nhiệt, sáng mắt, giải độc, dùng trị các chứng bệnh nhiệt phiền khát, trúng nắng phát sốt, kiết lỵ, ung nhọt, đau mắt đỏ do nhiệt... Các thử nghiệm đã chứng minh loại quả này chứa một chất tựa như insulin, làm giảm đường huyết rõ rệt, có thể dùng làm thuốc trị bệnh tiểu đường.
Cần tây Đà Lạt: Chứa canxi, sắt, phospho, giàu protid - gấp đôi so với các loại rau khác. Cần tây còn chứa nhiều acid amin tự do, tinh dầu, mannitol, inositol, nhiều loại vitamin, giúp tăng cảm giác thèm ăn, xúc tiến tuần hoàn máu và bổ não. Cần tây tính mát, vị ngọt, tác dụng thanh nhiệt, lợi thủy, trị đàm nhiều đầy ngực, lao hạch... Thử nghiệm đã chứng minh rau cần có tác dụng giảm áp rõ rệt, thời gian duy trì tùy theo liều lượng.
- Dưa leo: Chứa canxi, phospho, sắt, nhiều muối kali, chất nhầy, các acid amin, chất thơm, vitamin A, B1, B2, PP và C. Dưa leo tính mát, vị ngọt, tác dụng thanh nhiệt, tiêu viêm, lợi tiểu, trừ thấp, tiêu sưng.
Các món sinh tố trên đều có thể giúp phòng trị bệnh cao huyết áp và tiểu đường. Tuy nhiên, nên cách 3 ngày dùng 1 lần vì hầu hết các loại trái cây đều mang tính mát (trừ ớt xanh). Việc dùng quá nhiều sẽ gây mất cân bằng hàn - nhiệt của cơ thể. Nên dùng cả phần vỏ của các loại trái cây trên để giữ được đầy đủ các hoạt chất.
(Theo Sức Khỏe & Đời Sống)

Lược vàng huyền bí “ Lược vàng kỳ diệu “


Lược vàng huyền bí “ Lược vàng kỳ diệu “
(Về bài báo ở nước Nga viết năm 2001, trong đó thuật lại một số trường hợp dùng thảo dược Lược vàng chữa bệnh tuyệt vời).

Cây lược vàng (Lan vòi)


Lời dẫn: Nhân một số tờ báo đưa tin, "Thần dược Lược vàng chứa chất độc làm chết chuột... và đưa ra lời khuyên, chưa có thông tin chính xác người dân không nên dùng Lược vàng để chữa bệnh" đã làm tôi suy nghĩ về cội nguồn câu chuyện thảo dược Lược vàng du nhập vào nước ta để từ đó tìm lời giải đáp.

Tôi (Nguyễn Hiền Nhân) đã tìm đọc lại bài báo Nga dịch ra tiếng Việt nói về cây Lược vàng truyền bá vào nước ta cách nay gần 10 năm. Hóa ra dân mình đã tín nhiệm thảo dược Lược vàng bởi một số trường hợp chữa khỏi bệnh nặng đến kì diệu như vậy, nên từ ngày ấy dân mình đã hăng hái trong việc trồng và dùng Lược vàng để chữa bệnh. Từ tháng 11 năm 2008 đến nay, báo "Người cao tuổi" đã liên tục giới thiệu về "Thần dược Lược vàng" đã chữa khỏi bao nhiêu chứng bệnh trong dân một cách yên bình.

"Huyền bí, chữa bệnh, tuyệt vời" - đó là nội dung bài báo được Vơ-la-đi-mia O-gác-cốp viết đăng ở tạp chí "Sức Khỏe & Đời sống" "30 K" số 20 năm 2001. Bài báo thể hiện sự ngạc nhiên, vì cho đến nay người ta chưa công bố chính thức trong Dược điển, còn nhân dân thì gọi là cây "Lược vàng".
Từ điển Bách khoa toàn thư Nga viết về cây Lược vàng..

Cho đến nay, bạn đọc đã nhiều lần viết thư kể về công hiệu và những đặc tính khác nhau của loại thảo dược này. Hôm nay hiệu thuốc Đông Y chúng tôi một lần nữa nhắc lại và lưu ý cho mọi người về công dụng của loài thảo dược này.

Đâu là phép mầu kì diệu?

8 năm trước đây, tôi đột nhiên bị đau khủng khiếp ở cẳng tay và đốt sống cổ từ số 4 đến số 6. Tôi không thể ngoái đầu lại được, không cử động và nâng tay được v.v... Tại phòng khám đa khoa ở địa phương, người ta khám và chẩn đoán - vôi hóa đốt sống cổ số 4~6, xếp tôi vào nhóm thương tật mức 2. Họ bắt đầu điều trị bằng tiêm, xoa bóp. Nhưng tất cả việc này đã không làm bớt đau chút nào.

Đến giúp việc cho tôi là một phụ nữ tên là Va-len-tin Pê-trôp-na Các-trin-xi-na. Ở nhà cô ấy từ lâu đã có cây Lược vàng (Lúc nào cũng có bình rượu ngâm). Bôi, xoa bóp 3~4 lần/ngày ở đốt sống cổ và cẳng tay. Tôi đã được chữa khỏi căn bệnh này cho đến ngày nay. Tôi không hề bị cảm lạnh, đau cánh tay nữa. Khi đó tôi phải băng 4 lớp bông băng tẩm rượu ngâm, 2 lớp gạc. Tất cả bây giờ đã qua rồi.

Hiệu quả điều trị kì diệu của loài thảo dược này đã khêu gợi tính tò mò của tôi. Tôi biết rằng, uống loại rượu ngâm này điều trị các bệnh nội tạng như bệnh lao, bệnh đái tháo đường, bệnh u bướu. Vì vậy, tôi tự đưa ra công thức pha chế. Thân cây Lược vàng - 12 đốt mắt (cắt ra) - ngâm với 0,5 lít rượu Vodka, đậy kín, bảo quản 10 ngày trong chỗ tối. Uống mỗi lần từ 25 giọt đến 1 thìa nhỡ.

Bây giờ tôi đã 80 tuổi, năm 2001 tôi làm việc trong một trường phổ thông. Tôi bị xe tông phải, lái xe bỏ chạy. Để tôi nằm trong vũng nước lạnh buốt với rất nhiều vết thương nặng và chấn thương sọ não. Trong viện cấp cứu người ta nói rằng, "Tôi sinh ra vào giờ hoàng đạo nên rất may mắn và cao số". Họ băng bó và khâu vết thương cho tôi. Sau 2 ngày tôi hồi tỉnh với chân trái thâm đen từ gót đến mông, cơ bị dập nát, không bị gãy xương. Ngày thứ hai, đến thăm tôi là Va-len-tin Pê-trôp-na với bình rượu ngâm Lược vàng. Lúc này cô ấy ngồi và xoa bóp rượu thuốc cho tôi mấy lần lên chân. Sáng ngày hôm sau mọi thâm tím đều biến mất hết. Giấu không cho bác sĩ biết, trong vòng 10 ngày uống rượu thuốc ngâm theo liều lượng 1 thìa nhỡ/lần, 3 lần/ngày, vào trước bữa ăn. Nghỉ uống 7 ngày, sau đó tiếp tục 2 đợt uống như vậy ở nhà. Sau 1 tháng tôi có thể ngồi, và sau đó 1 tháng nữa, đi lại bằng gậy, sau 4 tháng tôi đã đi ra phố.

Vào tháng 7 năm ngoái, bạn gái tôi đột ngột đau dữ dội ở dạ dày. Gọi cấp cứu. Trong bệnh viện Quy-bu-xép-xki người ta chẩn đoán bà ấy bị u nang đại tràng cấp - ung thư. Họ đã mổ cắt khối u, cấy ống thoát dịch và ghi vào giấy sau 3 tháng quay lại viện khám lại. Suốt thời gian nằm ở nhà, uống rượu thuốc ngâm lược vàng với liều lượng 25 giọt/lần và bôi rửa vào vết mổ khâu. Sau 3 tháng bà ấy quay lại bệnh viện để bác sĩ kiểm tra, khám lại thì lỗ cấy ống thoát dịch đã biến mất, vết khâu đã lành hẳn. Bà ấy tiếp tục uống rượu thuốc ngâm. Chỗ vết mổ khâu bây giờ chỉ còn lại một sẹo nhỏ - chỗ cấy ống thoát dịch. Trái ngược với mọi dự đoán, nay đã 70 tuổi, bà ấy vẫn làm việc và cảm thấy sức khỏe tuyệt vời.
Lược vàng huyền bí “ Lược vàng kỳ diệu “
Anh trai của bạn gái tôi sau 2 tháng rưỡi điều trị ở khoa u bướu, họ viết giấy cho về nhà chờ chết vì bị ung thư dạ dày, mổ xẻ bây giờ đã quá muộn! Ông ấy đã uống rượu thuốc ngâm Lược vàng với liều lượng 1 thìa nhỡ. Sau 3 tuần, huyết sắc tố tăng từ 42 đến 120. Cảm thấy sức khỏe tốt, tăng cân, kiểm tra trong bệnh viện cho thấy khối u biến mất, không còn vết tích gì ở ổ bụng.

Huyền bí, chữa bệnh, tuyệt vời, kì diệu của thảo dược Lược vàng là như thế đấy. Tôi đã nhân giống cây này trồng trên toàn bộ 4 cái chậu trước 2 bệ cửa sổ hoặc ở đâu đó có thể.

Da-vui-den-co Alếch-xan-dre Alếch-xeev-na (192242, tp St.Pê-téc-bua đường Bu-kha-ret-xkaia, Nhà 23, cụm 1, căn hộ 922).

Cô ấy sử dụng và đã sống

Một năm rưỡi trước đây, qua người bạn cùng phòng cho biết sự bồi bổ mầu nhiệm của cây thuốc nhà - được gọi là cây bắp. Tôi đã trồng nó và dùng để dự phòng. Tôi đã đi tất cả các thư viện của thành phố Ki-si-nhốp, để làm rõ tên khoa học và tính điều trị của loài cây này. Đã thấy, đó là cây hoa chùm kép - đơn giản là cây Sâm nhà, cây Tóc tươi, cây Bắp, cây Lược vàng. Trong thời gian gần đây, Tạp chí "30 K" đã nói nhiều. Tôi nhắc lại lần nữa vì sau nhiều lần thực nghiệm trên bản thân, tôi đã tìm ra phương pháp sử dụng mới. Không phải ngâm rượu, mà nhai sống, bằng cách nhai kĩ Lược vàng ngay sau khi cắt. Vì như vậy, phương pháp này tận dụng hết công hiệu của nó. Còn cách điều trị, như tôi đã thuyết minh, sử dụng không chỉ chồi, búp, mà còn thân lá, thậm chí cả rễ.

Tính hiệu quả nhất, là sử dụng đoạn thân dài 2~3 cm, dùng nó 3 lần/ngày vào nửa giờ trước khi ăn. Dựa vào sự cảm nhận của bản thân người dùng mà có thể tăng hoặc giảm liều lượng xuống 1~2 cm. Ban đầu tôi sử dụng thảo dược mầu nhiệm này 2 lần/ngày, theo chu kì 15~30 ngày, bây giờ tôi dùng hằng ngày. Tôi cảm thấy không có phản ứng gì mà rất tốt. Thứ nhất, sung sức, cường tráng, muốn làm gì thì làm. Thứ hai, Ung thư dạ dày của tôi đã êm, bệnh đau rát thực quản biến mất, sau đó táo bón (bí đại tiểu tiện) ngừng hành hạ tôi. Bệnh sỏi thận bị đẩy lui, thật bất ngờ đối với bác sĩ theo dõi, sau 15 năm tôi trị bệnh, đi tất cả các trại điều dưỡng. Trước khi bắt đầu dùng Lược vàng, tôi bị phát bệnh đục thủy tinh thể, không nhìn thấy được. Sau một tháng dùng theo quy trình trên thì dừng, và bây giờ tôi đã nhìn thấy, thậm chí đã nhìn thấy rõ hơn trước. Sử dụng Lược vàng giảm huyết áp và làm thông động mạch vành. Bây giờ sử dụng thuốc với liều lượng chỉ cần một nửa.

Trong cơ thể tôi bị rối loạn mất cân bằng nước và muối khoáng, vôi hóa khớp xương và các bệnh khác. Qua 2 tháng, sau khi nhai nuốt Lược vàng, các bào tử vôi biến mất. Việc uống Lược vàng chữa bệnh vôi hóa các khớp xương tốt hơn. Không rát cổ, không đau họng, sổ mũi, lợi vững chắc hơn.

Mu-chi-ep-va A.D (277038, tp Ki-si-nhép, phố Clê-che-ban, nhà 84, căn hộ 38).

Tôi không đầu hàng

Từ lâu tôi chuyên đặt mua Tạp chí Ves-nhich, nó trở thành cuốn sách trên bàn của tôi. Bây giờ mọi người thường đến tôi tìm lời khuyên rằng, nếu điều trị thế này hay thế kia theo tạp chí (Sức khỏe & Đời sống) "30K". Lương hưu không đủ trang trải cho tất cả, rằng báo đã nói cái gì hay nhất. Tôi và vợ thương tật nhóm một. Tôi bị cắt 1/3 chân và bệnh đái tháo đường. Còn vợ tôi bị bại liệt sau cơn đột qụy. Vợ chồng tôi sống cùng nhau, bây giờ tôi vừa là chủ, vừa phục vụ vợ. Tự làm tất cả mọi việc. Đối với tôi, nghỉ ngơi tốt nhất là làm việc. Ngồi trên ghế, cuốc xới đất trên vườn rau, trồng tỉa rau. Cho tới thời gian gần đây, tôi chăn dê và gà. Vào năm 2002, tôi gieo bí ngô khổng lồ. Nếu có ai đó cần hạt giống, tôi có thể gửi thẳng vào phong bì thư. Có kèm địa chỉ cho tôi. Tôi nói cách gieo trồng như thế nào. Dù sao thì hạt bí ngô cũng rất có ích cho người bị bệnh gan, tim, thận.

Điều trị bệnh đái tháo đường từ Lược vàng: Tán nghiền lá Lược vàng, loại lá dài 20 cm, đổ ngập 1 lít nước sôi, quấn ủ hãm. Mỗi ngày uống nước hãm từ 3 lần, trước bữa ăn 10 phút, theo liều lượng 50 gam dạng ấm nóng. Kết quả đã xác nhận qua phân tích mức đường trong máu giảm. Thực nghiệm một công thức pha chế: Cắt 2 đoạn thân Lược vàng, mỗi đoạn dài 7 đốt mắt, ngâm 10 ngày trong 250 CC rượu Vodka. Bắt đầu uống 2 lần/ngày, với liều lượng 5 giọt/lần. Tiếp tục sử dụng như vậy.

Cách dùng là, cứ mỗi ngày tăng thêm 1 giọt, tăng cho đến 12 giọt thì giảm dần theo từng ngày cho trở về tới liều lượng như lúc uống ban đầu. Cần uống 5 đợt như vậy, giữa các đợt có nghỉ uống một số ngày. Sau đợt 1 và 2 mỗi đợt nghỉ uống 7 ngày. Sau đợt 3 và 4 mỗi đợt nghỉ 10 ngày. Tôi đã làm hoàn toàn như vậy và cảm thấy bây giờ rất dễ chịu. Làm việc thoải mái, Tôi nói lên điều này để muốn tất cả độc giả của báo được biết.

Et-cô-va Phê-đo-ru Phi-li-pô-vit-tru (355031, Sta-vrô-pôn, phố 9 tháng 1, số nhà 26 "A").

Nguyễn Hiền Nhân 
(Báo Nguoicaotuoi)


Liệt chân tay do thiếu kali


Chuối giúp ngăn ngừa chứng liệt do thiếu kali.

Căn bệnh đặc biệt này có tên là liệt chu kỳ gia đình, phát sinh khi có tình trạng hạ kali máu. Bệnh dễ bị chẩn đoán nhầm là viêm đa dây thần kinh và chữa bằng Terneurine, rất tốn tiền mà vẫn không khỏi. Nếu được chẩn đoán đúng, việc điều trị sẽ rất dễ dàng.

Bạn có thể nhận biết sớm bệnh liệt chu kỳ gia đình do thiếu kali dựa vào các biểu hiện được ghi trong mấy bệnh án sau:
Chị Lưu Thị Phương, 32 tuổi, bị liệt cả 2 tay, 2 chân vào buổi sáng khi thức dậy; riêng cánh tay phải có cử động lại được một ít. Bệnh khởi 3 ngày trước khi nhập viện. Trước đây bệnh nhân chưa từng liệt bao giờ và gia đình không có ai giống như vậy. Bệnh nhân vẫn tỉnh táo, nhiệt độ, huyết áp bình thường. Khám thần kinh cho thấy bệnh nhân yếu 2 tay, 2 chân chỉ nhúc nhích được một ít, đứng tại chỗ được nhưng không thể nào đi lại; ngoài ra không có rối loạn cảm giác nào được ghi nhận, các phản xạ gân xương vẫn còn. Tim phổi hoàn toàn bình thường. Các bác sĩ nghĩ ngay tới bệnh liệt chu kỳ gia đình do thiếu kali, và các xét nghiệm đã khẳng định điều này. Bệnh nhân được điều trị ngay bằng chlorure de kali dạng gói. Ngay ngày hôm sau, tay chân bệnh nhân đã cử động được. Năm ngày sau, chị đi lại như thường. Sau đó, mỗi lần bệnh tái phát, chị Phương lại được cho dùng muối chlorure de kali.
Chị Nguyễn Ngân Hương 27 tuổi ở Đồng Nai bị liệt tứ chi 15 ngày trước khi vào bệnh viện . Trước đó, chị đã được chẩn đoán viêm đa dây thần kinh, tiêm 5 hộp Terneurine không có kết quả. Khi đã được chẩn đoán liệt chu kỳ và dùng muối chlorure de kali, bệnh nhân đã hồi phục. Giá mỗi gói thuốc chỉ xấp xỉ 10.000 đồng.
Theo y văn thế giới, bệnh liệt chu kỳ do thiếu kali có tính chất gia đình (có nhiều người trong gia đình đều mắc) và tương đối hiếm gặp. Bệnh thường xuất hiện ở thanh niên nhưng cũng có thể gặp ở mọi lứa tuổi. Mỗi đợt liệt kéo dài vài giờ đến vài ngày, tái đi tái lại nhiều lần trong năm. Ở Việt Nam, bệnh thường có tính cá nhân (trong gia đình không ai bị), các đợt liệt thường kéo dài hơn, có khi cả 2 tuần. Cũng có khi bệnh không tái phát. Chẩn đoán bệnh này khá dễ dàng nhờ các triệu chứng: cơn liệt thường xảy ra vào buổi sáng lúc mới thức dậy, liệt tứ chi, đặc biệt có hồi phục phần nào vài giờ hay vài ngày sau đó. Bệnh nhân hoàn toàn không có rối loạn cảm giác, các phản ứng gân xương vẫn còn.
Tại sao bệnh nhân thiếu kali bị liệt tứ chi? Ion kali rất cần cho sự co rút các cơ. Ở bệnh nhân có những đợt hạ kali trong máu, các cơ không còn hoạt động theo ý muốn nữa, gây liệt. Tuy vậy, không phải chứng liệt nào cũng là bệnh liệt chu kỳ. Vì vậy, cần lưu ý:
- Nếu bệnh nhân liệt nửa người té ngã sau khi đi tiểu buổi sáng sớm hay sau khi ăn tiệc xong, đó là tai biến mạch não, thường gặp ở những người trên 50 tuổi. Dân gian gọi là trúng gió, nhưng việc cạo gió càng làm tăng huyết áp, khiến bệnh càng nặng hơn. Tai biến mạch não có 2 dạng thường gặp. Một là xuất huyết não với biểu hiện mê man, thở phì phò, liệt nửa người méo miệng, cao huyết áp; diễn tiến bệnh rất nặng, đa số chết trong vòng 3 ngày đầu. Hai là nhũn não do tắc mạch não, biểu hiện là bệnh nhân còn tỉnh, liệt nửa người, nói không rõ hay á khẩu. Việc chữa trị tích cực cho kết quả tốt nhất trong 15 ngày đầu. Để quá lâu, bệnh nhân có thể tàn phế vĩnh viễn, không đi lại được vì lúc ấy thương tổn trên não đã thành sẹo.
- Bệnh nhân bị liệt 2 chân cần loại trừ viêm đa dây thần kinh gặp ở những người nghiện rượu mãn tính, tiểu đường, thiếu máu, thiếu B1... Ở các bệnh trên, sẽ có thêm rối loạn cảm giác (tê chân), mất phản xạ gân xương, khác hẳn với bệnh liệt chu kỳ.
Có thể điều trị bệnh liệt chu kỳ khá dễ dàng bằng chlorure de kali hằng ngày cho đến khi cơn liệt chấm dứt. Tuy vậy, bệnh nhân thường có những đợt liệt tái phát. Cách phòng ngừa tốt nhất là ăn nhiều chuối hoặc uống ce kali hàng ngày. Thuốc này chỉ được dùng với sự hướng dẫn và theo dõi của bác sĩ. Bệnh nhân không nên tự mua dùng để trị liệt vì có ảnh hưởng xấu trên tim mạch khi dùng quá liều.