Chủ Nhật, 20 tháng 11, 2011


Các món ăn từ cà tím chữa bệnh cao huyết áp

Ngày: 22-12-2010
Cà tím còn có tên khoa học là Solanum melongema. Trong các loại cà, đặc biệt cà tím dài là thực phẩm có từ 2.000 năm trước Công nguyên ở nhiều vùng nhiệt đới Á Phi. Cà tím được ưa chuộng vì chứa nhiều vitamin và ít calo. Cà có thể bung, luộc, nướng, xào, nấu, trộn… chung với nhiều gia vị và thức ăn khác mà không hề bị giảm chất lượng thực phẩm.


Các món ăn từ cà tím chữa bệnh cao huyết áp
Theo Đông y, cà tím, đã được ghi trong bản thảo cương mục và các y văn cổ, có tính năng cực hàn, thanh can, giáng hỏa, lợi tiểu, nhuận tràng, chỉ huyết, hóa đàm, thanh nhiệt, giải độc.
Cà tím được dùng làm thức ăn phòng chữa bệnh nếu là quả chín tới. Để phòng chữa xuất huyết đường tiêu hóa, hô hấp, tiết niệu, người dân nên ăn cà tím có nhiều vitamin P, C giúp làm vững chắc thành mạch chống chảy máu nói chung.
Nếu được  phối hợp với chanh, ngó sen, rau cần thì hiệu quả tăng cao, mạnh và nhanh hơn. Dưới đây là một số bài thuốc chữa bệnh có dùng cà tím:

1. Cà tím xào mã đề

Cà tím 200g, mã đề 15g, hành 10g, gừng 5g, tỏi 10g, dầu mè, nước tương (xì dầu) một lượng thích hợp. Cà rửa sạch, cắt miếng, mã đề làm sạch; Hành cắt khúc, gừng cắt lát; tỏi bỏ vỏ, cắt khô.
Để chảo nóng đổ dầu vào, chờ dầu nóng bỏ gừng, hành vào phi thơm rồi cho cà, mã đề vào trộn đều, bỏ muối và một ít nước vào xào chín là được. Mỗi ngày ăn một lần, có tác dụng thanh nhiệt, giải độc, lợi tiểu, hạ huyết áp.

2. Canh gà, cà tím

Gà giò 1 con, cà tím 200g, sơn tra 15g, gừng 5g, hành 10g, dầu, muối một lượng thích hợp. Gà làm sạch, bỏ nội tạng, cà tím rửa sạch, cắt miếng, gừng cắt lát; hành cắt khúc.
Để nồi nóng đổ dầu vào, cho gừng, hành vào phi thơm  rồi bỏ gà vào xào sơ. Tiếp đó, đổ nước vào, bỏ cà, sơn tra, muối vào, nấu sôi bằng lửa lớn, sau đó vặn lửa nhỏ nấu thêm chừng 30 phút là được. Mỗi ngày ăn một lần, dùng thay thức ăn, có tác dụng giảm mỡ, hạ huyết áp.

3. Cà tím nhồi om

Cà tím dài 3 quả nhỏ, nhân thịt chay 300g, sốt cà chua 15ml, dầu vừng 2 thìa, gia vị. Cà thái dọc làm hai nửa, bỏ ruột, ngâm nước muối, vớt ra vắt nhẹ cho ráo. Nhồi nhân thịt chay đã trộn gia vị, rán vàng phía nhồi nhân, xếp vào xoong. Tiếp đó xào hành, bột mì và sốt cà chua để om.
Theo http://cientosbeer.com

Các bài thuốc bí truyền chữa cao huyết áp

Ngày: 24-05-2005
Có thể cải thiện tình trạng cao huyết áp bằng món cháo rau cần: rau cần tươi (cả rễ) 50g rửa sạch, thái nhỏ, cho vào nấu cháo với 60g gạo tẻ. Mỗi ngày ăn vào buổi sáng và bữa tối. Ăn liền 7 ngày.

Ổn định huyết áp: Ngô thù du tán bột mịn, mỗi lần dùng 30g trộn với giấm ăn thành bột sền sệt; trước khi đi ngủ đắp thuốc vào huyệt dũng tuyền ở hai bàn chân, dùng băng gạc cố định lại. Mỗi ngày thay thuốc một lần. Đắp dán thuốc liên tục 3-5 lần thì huyết áp ổn định.
Trị bệnh tăng huyết áp: Đào nhân 12g, hạnh nhân 12g, chi tử 12g, hồ tiêu 4g, gạo nếp 14 hạt, lòng trắng trứng gà 1/3 trứng. Đem giã nát 5 vị thuốc, trộn 1/3 lòng trắng trứng vào cho đều, đắp dán thuốc vào huyệt dũng tuyền ở 2 lòng bàn chân vào mỗi buổi tối trước khi đi ngủ. Dùng gạc băng cố định lại, sáng hôm sau bỏ thuốc ra. Đắp dán 6 đêm liền. Nếu thấy da ở chỗ đắp dán thuốc có màu tím tái thì cũng đừng lo ngại.
Cách ngâm rửa chữa tăng huyết áp: Hạ khô thảo 30g, câu đằng 20 g, tăng diệp 20g, cúc hoa 20g. Nấu các vị trên với 2 lít nước sôi 15 phút. Để nước thuốc còn nóng 30-50 độ C, đổ vào thau. Ngâm 2 chân vào, đồng thời không ngừng vò kỹ 2 bàn chân vào nhau khoảng 30 phút. Ngày 1 lần.
Cháo thuốc: Mộc nhĩ đen ngâm nở, xé thành miếng nhỏ. Táo tàu ngâm qua nước sôi, rửa sạch thái nhỏ, bỏ hạt, cho ít đường vào trộn ngâm 20 phút. Mộc nhĩ đen và gạo tẻ nấu thành cháo xong cho táo tàu và nước đường vào nấu thêm 10 phút, ăn vào bữa điểm tâm và bữa tối.
Trà thuốc: Rau ngót 90%, chè xanh 10%, tán bột thô. Mỗi ngày dùng 50g, hãm với 1 lít nước sôi, uống cả ngày. Thuốc có công dụng tiêu mỡ thừa, hạ áp. Hoặc:
- Sơn tra 80%, lá sen 20%, tán bột thô, ngày dùng 30g, hãm với 1 lít nước sôi, uống cả ngày, dùng cho người béo phì, mỡ máu cao, cao huyết áp.
- Hoa cúc 40%, hoa hoè 30%, chè xanh 30%, tán bột thô. Ngày dùng 30g, hãm với một lít nước sôi, công dụng mát huyết, hạ áp, dành cho người xơ mỡ động mạch, huyết áp tăng.
- Chi tử 50%, chè xanh 50%, tán bột thô, ngày dùng 60g, hãm với 1 lít nước sôi, có công dụng mát huyết, hạ áp; chữa cao huyết áp, đau đầu, hoa mắt, chóng mặt.
- Cúc hoa 6g, hoa hoè 6g, chè xanh 6g, long đởm thảo 10g, hãm với 1 lít nước sôi, uống cả ngày, có công dụng giãn mạch, hạ áp, giảm cholesterol huyết.



Các bài thuốc Đông Y điều trị tăng huyết áp


Bài 1

Chữa tăng huyết áp ở bệnh nhân có vữa xơ động mạch, chóng mặt, ù tai: Thục địa 25g, hoài sơn 15g; phục linh, sơn thù du, mỗi vị 12g, mẫu đơn bì, lá dâu tằm, cúc hoa trắng, mỗi vị 10g. Sắc uống ngày 1 thang.

Các bài thuốc Đông Y điều trị tăng huyết áp

Bài 2

Chữa tăng huyết áp ở bệnh nhân có nhịp tim nhanh, ra mồ hôi, có hiện tượng ứ trệ huyết ở mạch máu ngoại biên: thục địa, mạch môn, đương quy, long đởm thảo, dành dành, hoàng liên, hoàng bá, thạch cao mỗi vị 30g; ngưu tất 25g; tri mẫu 10g, mộc hương 6g. Tất cả các vị tán bột, làm thành viên hoàn 0,5g. Mỗi lần uống 4 viên, ngày 3 lần.

Bài 3

Chữa tăng huyết áp ở bệnh nhân có bệnh cơ tim: phục linh 15g, bá tử nhân 12g; toan táo nhân (sao đen), thục địa, hoài sơn, đương quy mỗi vị 10g, mộc hương 6g, hoàng liên 3g. Sắc uống ngày 1 thang.

Bài 4

Chữa tăng huyết áp ở bệnh nhân mắc bệnh thận: phục linh, thục địa, hoài sơn, thạch hộc mỗi vị 12g; cúc hoa trắng, kỷ tử, sơn thù du, trạch tả, mỗi vị 10g, mẫu đơn bì 6g. Sắc uống ngày 1 thang.

Bài 5

Chữa tăng huyết áp ở bệnh nhân có giãn tim, chóng mặt, khó thở, ra mồ hôi, có biểu hiện ứ trệ huyết: mạch môn, hà thủ ô đỏ mỗi vị 15g; thục địa, đương quy, ngũ vị tử, toan táo nhân (sao đen), huyền sâm, mỗi vị 10g; phục linh, thạch xương bồ, cúc hoa trắng, cam thảo bắc, đảng sâm mỗi vị 6g; dành dành 3g. Sắc uống ngày 1 thang.

Bài 6

Chữa tăng huyết áp mức độ vừa: hoài sơn, tri mẫu, bắc sa sâm, huyền sâm, vỏ rễ dâu, mỗi vị 15g; thục địa, mẫu đơn bì, toan táo nhân  (sao đen), hà thủ ô đỏ mỗi vị 10g; phục linh, thạch xương bồ, đương quy, hoàng cầm mỗi vị 6g. Sắc uống ngày 1 thang.

Bài 7

Chữa tăng huyết áp ở người cao tuổi có vẻ mặt khoẻ mạnh: hạ khô thảo 30g; mẫu đơn bì, bạch thuợc mỗi vị 10g. Sắc uống ngày 1 thang. Có thể dùng trong thời gian dài.
GS. Đoàn Thị Nhu
Theo sức khỏe đời sống

Các món cháo chữa bệnh cao huyết áp

 Một loại mộc nhĩ trắng.

Chuẩn bị: mộc nhĩ trắng 10 g, mộc nhĩ đen 10 g, gạo tẻ 50-100 g, đường phèn vừa đủ. Ngâm mộc nhĩ cho nở ra, bỏ núm ở đế cuống, thái thành miếng nhỏ nấu với gạo tẻ thành cháo, khi chín cho đường phèn vào ăn hết trong ngày.

Đó là món cháo song nhĩ hạ áp. Sau đây là một số bài cháo thuốc khác, tất cả đều có tác dụng điều trị tích cực, không có tác dụng phụ:
- Cháo mộc nhĩ đen và táo tầu: Mộc nhĩ đen ngâm nước cho nở ra, xé thành miếng nhỏ, táo tàu rửa sạch bằng nước sôi, lọc bỏ hạt, trộn với đường, ngâm 20 phút. Cho mộc nhĩ đen và gạo tẻ vào cùng để nấu thành cháo. Sau đó cho táo tàu và đường đỏ vào nấu tiếp 10 phút, ăn bữa sáng và bữa tối.
- Cháo sa sâm: Sắn dây tươi 50 g, sa sâm 20 g, mạch đông 20 g, gạo tẻ 60 g. Rửa sạch sắn dây tươi, thái thành lát mỏng, cho nước vào xay cùng với sa sâm và mạch đông, gạn lấy bột, phơi khô. Cho bột này vào cháo gạo để ăn trong 1 ngày. Có thể làm một lượng lớn loại bột trên để ăn dần, ăn thường xuyên.
- Cháo bột ngô, xa tiền tử: Bột ngô lượng vừa đủ, xa tiền tử 15 g, gạo tẻ 60 g. Xa tiền tử gói lại, đem nấu lấy nước, bỏ bã, có thể cho thêm lượng nước vừa phải vào nấu cháo với gạo tẻ. Bột ngô ngâm nước lạnh cho nở ra rồi cho vào cháo nấu chín nhừ để ăn hằng ngày.
- Cháo quyết minh tử hạ áp: Quyết minh tử đem sao cho đến khi hơi bốc mùi thơm, để nguội rồi nấu với hoa cúc bạch lấy nước, bỏ bã. Cho gạo tẻ vào nước đó nấu thành cháo, khi cháo chín cho đường phèn vào, nấu sôi lại là được. Ăn mỗi ngày một lần, mỗi liệu trình kéo dài 5-7 ngày. Những bệnh nhân đang bị tiêu chảy tạm thời không nên dùng cháo này.
KHCN (theo Những bài thuốc bí truyền chữa cao huyết áp)

Chữa trị tăng huyết áp như thế nào?

Hai biện pháp: không dùng thuốc và dùng thuốc.

1. Biện pháp không dùng thuốc, gọi là thay đổi lối sống.

§   Bỏ hoặc không hút thuốc lá:
§   Ăn thanh tịnh: ăn lạt, ăn nhiều rau, ăn đủ lượng kali, ăn nhiều cá, ăn ít mỡ động vật.
§   Uống rượu bia ít và điều độ.
§   Giữa cân nặng chuẩn.
§   Rèn luyện thể lực mức độ trung bình: mỗi ngày 30-45 phút, tuần 180 phút như đi bộ nhanh (7 km/giờ), đi xe đạp nhanh, chạy, chơi bóng bàn.
§   Giữ bình thản.
Biện pháp thay đổi lối sống do người bệnh thực hiện.

2. Biện pháp dùng thuốc.

    Hiện nay có khoảng 300 loại thuốc chữa tăng huyết áp khác nhau và thầy thuốc sẽ căn cứ bệnh trạng cụ thể mà lựa chọn thuốc phù hợp nhất cho từng người. Mỗi viên thuốc có một số phận! Người bệnh không nên ỷ lại vào thuốc mà xem nhẹ hiệu quả thay đổi lối sống.
    Biện pháp dùng thuốc do thầy thuốc đảm nhận, người bệnh tuyệt đối không tuỳ tiện điều chỉnh!
    Biện pháp không dùng thuốc là cách thức chữa trị đầu tiên, bổ trợ và song hành với cách chữa bằng thuốc.

Nơi chữa trị.

    Do tính chất mạn tính, tốt nhất người bệnh nên chữa trị tại nơi mình cư trú. Đợt cấp thời, người bệnh chữa trị nội trú tại các cơ sở y tế chuyên khoa; sau đó tiếp tục chữa trị ngoại trú.

Lợi ích và thời gian chữa trị?

    Chữa trị làm giảm tối đa các biến chứng do tăng huyết áp, giảm chi phí và kéo dài tuổi thọ. Chữa trị càng sớm càng tốt!

Chữa trị tăng huyết áp là lâu dài.

    Không có khái niệm khỏi bệnh tăng huyết áp trừ phi những tăng huyết áp thứ phát như tăng huyết áp do hẹp động mạch thận, nong được động mạch hẹp thì hết tăng huyết áp.

Liệu chữa khỏi tăng huyết áp không?

    Chỉ có khái niệm đã khống chế được tăng huyết áp vì đây là bệnh kéo dài trừ phi tăng huyết áp mắc phải thì chữa khỏi.

Khi nào huyết áp xuống tới mức an toàn?

    Khi con số tăng huyết áp < (đọc là nhỏ hơn) 140/90 mm Hg thì gọi là điều trị ổn, lúc này mối nguy hiểm đã giảm nhiều. Ngưỡng này cao thấp tuỳ bệnh kèm theo cụ thể, ví dụ đái tháo đường và bệnh thận giai đoạn cuối thì ngưỡng an toàn là <130/80 mm Hg.

Làm sao để chữa trị tăng huyết áp đạt mức tối ưu.

Kiên trì thay đổi lối sống và tuân thủ thầy thuốc!
    Hãy hỏi thầy thuốc khi có bất cứ thắc mắc và khó chịu nào về bệnh tật. Liên tục tìm hiểu về tăng huyết áp để việc chữa trị tốt hơn (qua thầy thuốc, phương tiện truyền thông: sách báo, tivi, đài). Người bệnh và thầy thuốc thân tình với nhau thì việc khống chế tăng huyết áp tốt hơn.
10 loại thực phẩm lành mạnh cần có trong nhà bạn

Xúp lơ xanh chứa nhiều vitamin C.
Bạn chuẩn bị đi tới một hòn đảo hoang vắng trong vòng một tháng và được mang theo 10 loại đồ ăn lành mạnh, có khả năng cung cấp đầy đủ chất dinh dưỡng cho cơ thể. Bạn sẽ chọn những gì?
Bác sĩ Joey Shulman, chuyên gia dinh dưỡng của Canada, sẽ giúp bạn trả lời câu hỏi này. 10 loại "siêu thực phẩm" mà nữ bác sĩ đề xuất có thể được tìm thấy ở hầu hết các cửa hàng thực phẩm.
1. Đậu tương
Nghiên cứu cho thấy đậu tương chứa các chất nguồn gốc thực vật tên là isoflavone, giúp đẩy lùi bệnh tim mạch, ung thư và chứng loãng xương. Loại hạt bé nhỏ này là nguồn cung cấp protein tuyệt vời; nó chứa ít hoặc không chứa cholesterol và chất béo bão hòa.
2. Xúp lơ xanh (broccoli)
Thứ rau này rất giàu chất dinh dưỡng. Nó chứa các thành phần hóa học giúp ngăn ngừa sự phát triển của khối u và kích thích hệ miễn dịch của bạn. Đây là cũng là nguồn cung cấp vitamin C tuyệt hảo.
3. Cá hồi
Rất nhiều người ở Bắc Mỹ
4. Gạo lứcthiếu một chất béo thiết yếu là omega-3. Dầu của cá hồi và các loại cá nước lạnh khác (cá ngừ, cá thu, cá bơn...) chứa nhiều chất béo có ích này. Omega-3 giúp bảo vệ động mạch của bạn khỏi bị tấn công bởi những mảng xơ vữa, và rất hiệu quả trong giảm hàm lượng cholesterol xấu.  
Nếu muốn giảm cân, ruột khỏe mạnh và giảm cholesterol máu, hãy chọn gạo lức thay cho gạo trắng. Gạo này giàu chất xơ và vitamin B, axit folic, sắt, kali, kẽm và các yếu tố vi lượng.
5. Nước
Về kỹ thuật thì đây không phải thức ăn, nhưng cơ thể phụ thuộc hoàn toàn vào nuớc để sống sót. Mất nước là một trong những nguyên nhân chính của sự mệt mỏi và cứng cơ. Nếu uống đủ 6 cốc nước loại 200 ml mỗi ngày, bạn sẽ cảm thấy hoạt bát hơn nhiều. Da và tóc cũng được cải thiện rõ rệt. 
6. Các quả mọng (berry)
Các loại quả sặc sỡ như dâu tây (strawberry), mâm xôi (raspberry), nam việt quất (cranberry) chứa nhiều chất bảo vệ
Quả nam việt quất.
bạn khỏi bệnh ung thư, các vi khuẩn có hại như E.coli và bệnh nhiễm trùng tiết niệu.
7. Trứng omega-3
Ăn trứng này ở mức độ vừa phải, không quá 5 quả mỗi tuần, là cách tuyệt vời để đưa thêm chất béo có lợi vào cơ thể qua chế độ ăn. Loại trứng này hiện đã có bán ở phần lớn các cửa hàng thực phẩm của Canada.
8. Khoai lang
Đây là loại thực phẩm lành mạnh, dùng rất tốt để thay thế khoai tây trắng. Khoai lang chứa nhiều caroten, giúp bảo vệ bạn khỏi bệnh tim và ngăn ngừa sự phát triển của khối u. Để thu được nhiều caroten, có thể dùng các thực phẩm có màu da cam hoặc xanh khác như cà rốt, mơ, bí xanh, rau bina (spinach) và xúp lơ xanh.
9. Các loại hạt
Rất giàu omega-3, kẽm và sắt. Để có giá trị dinh dưỡng cao nhất, nên dùng hạt này ở dạng sống. Vừng, hạt bí ngô và hạt hướng dương là những thứ rất ngon có thể rắc lên trên món salad. 
10. Tỏi
Tuy có thể gây mùi khó chịu, tỏi là một chất chống nấm, chống vi khuẩn và virus rất mạnh. Nghiên cứu cho thấy tỏi làm giảm cholesterol và huyết áp. Để thu được nhiều lợi nhất, cần nghiền nát tỏi trước khi ăn.
Thu Thủy (theo doctorjoey.ca

 Một số thảo dược chữa bệnh cao huyết áp


Theo y học cổ truyền còn có rất nhiều thảo dược, nhiều loại cây quý có tác dụng hạ huyết áp. Bài viết dưới đây xin giới thiệu một số thảo dược thông dụng, dễ tìm.


1. Hoa hòe



Cách dùng: Hoa hòe 12g, quyết minh tử 6g, cam thảo nam 2g. Sắc uống ngày một thang. Đông y gọi hoa hòe là hòe mễ, mễ là hạt gạo, ý nói vị thuốc từ hoa hòe, có kích thước chỉ bằng hạt gạo, nghĩa là còn ở dạng nụ hoa, mới được dùng làm thuốc. Do vậy, ta phải thu hái hoa hòe, ngay từ khi nó còn là nụ hoa, là như vậy. Sau khi thu hái hoa hòe, người ta tuốt lấy nụ hoa, nhặt bỏ các cành con và lá còn sót lại, rồi đem sao. Trong hoa hòe có chứa rutin là hoạt chất chủ yếu, ngoài ra còn có Betulin.

Tác dụng sinh học của hoa hòe đã được chứng minh: Rutin – hoạt chất của hoa hòe có tác dụng giống như vitamin P nên có tác dụng làm bền và giảm tính thấm của mao mạch, giảm trương lực cơ trơn và chống co thắt, giảm tác dụng của adrenalin trong cơ thể. Trên thực tế lâm sàng, người ta thường dùng hoa hòe để dự phòng tai biến của bệnh xơ vữa động mạch và điều trị bệnh tăng huyết áp.

Ngoài ra còn dùng trong các trường hợp phụ nữ băng huyết, chảy máu cam, ho ra máu, tổn thương ngoài da do bức xạ, chống dị ứng, thấp khớp, làm vết thương chóng liền sẹo.

2. Cúc hoa vàng



Cách dùng: Cúc hoa 12g, quyết minh tử 12g sao thơm, lá dâu 6g, hòe hoa 6g, cam thảo nam 2g. Sắc uống ngày một thang, chia uống nhiều lần trong ngày.

Tên khoa học Chrysanthemun indicum L., C. boreale Ma và C. Lavandulaejolium (Fisch) Mak. Thường dùng hoa để làm thuốc. Trong hoa có chứa 3 glucosid và một số tinh dầu thơm.

Theo y học cổ truyền: Cúc hoa vị ngọt, đắng, tính hơi hàn. Vào các kinh phế, can, thận. Có tác dụng thanh nhiệt, giải độc, mát gan, sáng mắt. Thường được dùng để chữa các chứng phong nhiệt ở can kinh, mắt mờ, mắt đỏ sưng đau, hoa mắt chóng mặt. Liều dùng 4-24g.

Theo y học hiện đại: Dịch triết cồn cúc hoa vàng có tác dụng làm hạ huyết áp kéo dài thông qua tác dụng giãn mạch ngoại vi.

Trong thực tiễn lâm sàng, cúc hoa vàng làm giảm nhẹ các triệu chứng của bệnh tăng huyết áp như đau đầu, mất ngủ, choáng váng. Ngoài ra còn được sử dụng rộng rãi trong điều trị các bệnh cảm lạnh, viêm não, cảm cúm…

3. Ích mẫu



Cách dùng: Ích mẫu thảo 12g, lá dâu 12g, cam thảo nam 2g. Sắc uống ngày một thang.

Tên khoa học Leonurus Heterophyllus Sw. Còn có tên gọi sung úy, chói đèn. Thường dùng thân lá với tên ích mẫu thảo hoặc quả chín có tên gọi là sung úy tử. Là cây được trồng để làm thuốc và cũng mọc hoang ở nhiều nơi ven suối, ven sông.

Hoạt chất của ích mẫu gồm có flavonoid, trong đó có một chất được xác định là rutin. Ngoài ra còn có glucosid, steroid, tanin, tinh dầu… Trong quả có alkaloid là leonurin.

Tăng huyết áp là bệnh đang ngày càng có xu hướng gia tăng, đây được xem là một trong những nguyên nhân gây tử vong hàng đầu trên thế giới. 

Theo tài liệu cổ, ích mẫu vị cay, đắng, tính hơi hàn, có tác dụng trục ứ huyết, sinh huyết mới, hoạt huyết, điều kinh.

Liều dùng 6-12g dưới dạng thuốc sắc hoặc cao thuốc. Trong dân gian thường dùng ích mẫu để chữa các bệnh phụ nữ. Còn dùng để chữa bệnh huyết áp cao, bổ huyết, bệnh về mạch vành, rối loạn thần kinh tim, lỵ… Quả ích mẫu dùng để làm thuốc thông tiểu, phù thũng, thiên đầu thống…

Tác dụng sinh học của ích mẫu trên tim mạch đã được các nhà khoa học chứng minh. Cao lỏng ích mẫu có tác dụng làm hạ huyết áp thông qua cơ chế làm giảm tác dụng co mạch của adrenalin… Ngoài ra, ích mẫu còn có tác dụng tốt đối với cơ tim có bệnh. Tác dụng an thần của ích mẫu đã được ghi nhận. Một số vi khuẩn gây bệnh ngoài da cũng bị ức chế bởi ích mẫu… Liên Xô (cũ) đã áp dụng rượu thuốc ích mẫu điều trị tăng huyết áp, rối loạn thần kinh tim và làm thuốc an thần.

4. Cây xú ngô đồng




Cách dùng: Lá xú ngô đồng 12g, cúc hoa 12g, hoa hòe 6g, cam thảo nam 2g. Sắc uống ngày một thang.

Tên khoa học Clerodendrum trichotomum Thum, là tên gọi của một số cây như xích đồng nam (Clerodendrum squamatum Vahl) và cây bạch đồng nữ (Clerodendrum fragrns (Vent) Willd). Cây xích đồng nam còn có tên gọi: cây mò đỏ, bấn hoa đỏ.

Còn cây bạch đồng nữ còn có tên gọi: cây mò trắng, cây bấn trắng, vậy trắng.

Hai cây này thường dùng lá để làm thuốc, có thể dùng dưới dạng chè thuốc. Trong lá cây có chứa một số glucosid và alkaloid, acid…

Kinh nghiệm dân gian thường dùng lá bạch đồng nữ chữa các bệnh ghẻ lở, mụn nhọt, rửa chốc đầu… và chữa bệnh khí hư, bạch đới của phụ nữ với liều 15-20g lá khô sắc uống. Rễ xích đồng nam, bạch đồng nữ sắc uống có tác dụng chữa bệnh vàng da, vàng mắt.

Theo các nhà khoa học, lá xú ngô đồng có tác dụng hạ huyết áp. Các thí nghiệm trên động vật cho thấy huyết áp hạ rõ rệt.

Thực tiễn lâm sàng cho thấy lá xú ngô đồng được sử dụng để điều trị bệnh tăng huyết áp (sau 4-5 tuần dùng hàng ngày, huyết áp mới giảm có ý nghĩa). Liều dùng hàng ngày 9-16g, chia 3-4 lần uống. Chè lá còn có tác dụng an thần, giảm đau và chống viêm.

5. Đỗ trọng



Cách dùng: Đỗ trọng 100g, nhân sâm 12g. Ngâm với 1 lít rượu trắng 29,5 độ (rượu lúa mới). Ngày uống 2-3 lần, mỗi lần 5ml.

Hoặc: đỗ trọng 5-12g, sắc uống ngày một thang.

Hoặc: đỗ trọng 5-12g, cúc hoa 12g, hoa hòe 6g. Sắc uống ngày một thang.

Tên khoa học Cortex Eucommiae. Là vỏ của cây đỗ trọng, chưa thấy mọc hoang ở nước ta, hiện đã di thực được. Vị thuốc này ta vẫn còn phải nhập. Trong đỗ trọng, có các alkaloid, D.glucosid, resin, acid hữu cơ, albumin, tinh dầu, chất béo…

Theo tài liệu cổ, đỗ trọng có vị ngọt, hơi cay, tính ôn, vào 2 kinh can và thận. Có tác dụng bổ can thận, mạnh gân cốt, an thai, dùng chữa đau lưng, đi tiểu nhiều, chân gối yếu mềm.

Tác dụng sinh học của đỗ trọng trên tim mạch đã được chứng minh là tác dụng hạ huyết áp do ức chế trong tâm vận mạch ở hành tủy. Ngoài ra còn có tác dụng làm mạnh sự co bóp cơ tim, lợi tiểu… Liên Xô (cũ) đã chính thức công nhận đỗ trọng là vị thuốc dùng để điều trị bệnh tăng huyết áp, được dùng dưới dạng cao lỏng, thuốc sắc hoặc ngâm rượu.

Cần chú ý: liều thấp có tác dụng giãn mạch, liều cao lại gây co mạch.

Đỗ trọng có thể dùng để điều trị tăng huyết áp có biến chứng suy tim. Ngoài ra còn có thể chữa các bệnh đau lưng, ra mồ hôi trộm, phụ nữ hay sẩy thai, trẻ em kinh giản (co giật).

Theo_24h


5 món sinh tố giúp phòng trị cao huyết áp, tiểu đường


Ít người biết rằng ớt xanh Đà Lạt có tác dụng tốt cho những người béo phì trong việc ngăn chặn nguy cơ mắc các bệnh rối loạn chuyển hóa, chẳng hạn như tiểu đường. Nên thường xuyên dùng nó như một loại sinh tố.

Ớt xanh Đà Lạt chứa khá nhiều protid, đường, canxi, phospho, sắt, beta-caroten, vitamin B1, B2, PP. Nó là loại rau quả chứa nhiều vitamin C nhất. Các chất trong loại quả này có tác dụng kích thích tuyến dịch vị, gia tăng sự bài tiết, vì thế tăng cường tác dụng tiêu hóa. Ngoài ra, còn kích thích tim đập nhanh, làm tăng tốc tuần hoàn, có tác dụng làm ấm, ức chế tích tụ mỡ, phòng ngừa béo phì. Ớt tính nóng, vị cay, có tác dụng tán hàn, kiện vị, tiêu thực, trị đau bụng do lạnh, nôn ói, tả lỵ.
Một số loại sinh tố khác cũng có ích cho bệnh nhân tiểu đường và cao huyết áp:
Táo: Có hàm lượng đường fruitose cao nhất trong các loại trái cây. Ngoài ra, nó còn có acid malic, acid tannic, chất xơ, canxi, phospho, sắt, pectin, kali, lipid, protid và nhiều loại vitamin rất tốt cho cơ thể. Theo Đông y, táo tính mát, vị ngọt chua, có công hiệu kiện tỳ, ích vị, trị các chứng buồn nôn, chán ăn, bổ dưỡng tâm khí, dùng trong chứng tinh thần uể oải. Nó còn có tác dụng sinh tân, nhuận táo, chỉ khát, dùng trị ho, tâm phiền miệng khát do nhiệt. D
Táo còn có tác dụng hấp thu vi khuẩn và độc tố, trị tiêu chảy. Bên cạnh đó, chất xơ, acid hữu cơ lại kích thích đường ruột, làm mềm phân nên giúp đại tiện thông. Táo chứa chất kali có lợi cho việc bài tiết natri, tốt cho người cao huyết áp. Acid hữu cơ trong táo còn kích thích bài tiết dịch vị, trợ giúp tiêu hóa.
Mướp đắng: Chứa nhiều chất xơ thô, canxi, phospho, sắt, beta-caroten, vitamin B1, B2, PP, C, nhiều loại acid amin, 5-HT..., đều là những chất dinh dưỡng cần thiết cho cơ thể. Mướp đắng tính hàn, vị đắng, có công dụng dưỡng huyết, bổ gan, thanh nhiệt, sáng mắt, giải độc, dùng trị các chứng bệnh nhiệt phiền khát, trúng nắng phát sốt, kiết lỵ, ung nhọt, đau mắt đỏ do nhiệt... Các thử nghiệm đã chứng minh loại quả này chứa một chất tựa như insulin, làm giảm đường huyết rõ rệt, có thể dùng làm thuốc trị bệnh tiểu đường.
Cần tây Đà Lạt: Chứa canxi, sắt, phospho, giàu protid - gấp đôi so với các loại rau khác. Cần tây còn chứa nhiều acid amin tự do, tinh dầu, mannitol, inositol, nhiều loại vitamin, giúp tăng cảm giác thèm ăn, xúc tiến tuần hoàn máu và bổ não. Cần tây tính mát, vị ngọt, tác dụng thanh nhiệt, lợi thủy, trị đàm nhiều đầy ngực, lao hạch... Thử nghiệm đã chứng minh rau cần có tác dụng giảm áp rõ rệt, thời gian duy trì tùy theo liều lượng.
- Dưa leo: Chứa canxi, phospho, sắt, nhiều muối kali, chất nhầy, các acid amin, chất thơm, vitamin A, B1, B2, PP và C. Dưa leo tính mát, vị ngọt, tác dụng thanh nhiệt, tiêu viêm, lợi tiểu, trừ thấp, tiêu sưng.
Các món sinh tố trên đều có thể giúp phòng trị bệnh cao huyết áp và tiểu đường. Tuy nhiên, nên cách 3 ngày dùng 1 lần vì hầu hết các loại trái cây đều mang tính mát (trừ ớt xanh). Việc dùng quá nhiều sẽ gây mất cân bằng hàn - nhiệt của cơ thể. Nên dùng cả phần vỏ của các loại trái cây trên để giữ được đầy đủ các hoạt chất.
(Theo Sức Khỏe & Đời Sống)

Lược vàng huyền bí “ Lược vàng kỳ diệu “


Lược vàng huyền bí “ Lược vàng kỳ diệu “
(Về bài báo ở nước Nga viết năm 2001, trong đó thuật lại một số trường hợp dùng thảo dược Lược vàng chữa bệnh tuyệt vời).

Cây lược vàng (Lan vòi)


Lời dẫn: Nhân một số tờ báo đưa tin, "Thần dược Lược vàng chứa chất độc làm chết chuột... và đưa ra lời khuyên, chưa có thông tin chính xác người dân không nên dùng Lược vàng để chữa bệnh" đã làm tôi suy nghĩ về cội nguồn câu chuyện thảo dược Lược vàng du nhập vào nước ta để từ đó tìm lời giải đáp.

Tôi (Nguyễn Hiền Nhân) đã tìm đọc lại bài báo Nga dịch ra tiếng Việt nói về cây Lược vàng truyền bá vào nước ta cách nay gần 10 năm. Hóa ra dân mình đã tín nhiệm thảo dược Lược vàng bởi một số trường hợp chữa khỏi bệnh nặng đến kì diệu như vậy, nên từ ngày ấy dân mình đã hăng hái trong việc trồng và dùng Lược vàng để chữa bệnh. Từ tháng 11 năm 2008 đến nay, báo "Người cao tuổi" đã liên tục giới thiệu về "Thần dược Lược vàng" đã chữa khỏi bao nhiêu chứng bệnh trong dân một cách yên bình.

"Huyền bí, chữa bệnh, tuyệt vời" - đó là nội dung bài báo được Vơ-la-đi-mia O-gác-cốp viết đăng ở tạp chí "Sức Khỏe & Đời sống" "30 K" số 20 năm 2001. Bài báo thể hiện sự ngạc nhiên, vì cho đến nay người ta chưa công bố chính thức trong Dược điển, còn nhân dân thì gọi là cây "Lược vàng".
Từ điển Bách khoa toàn thư Nga viết về cây Lược vàng..

Cho đến nay, bạn đọc đã nhiều lần viết thư kể về công hiệu và những đặc tính khác nhau của loại thảo dược này. Hôm nay hiệu thuốc Đông Y chúng tôi một lần nữa nhắc lại và lưu ý cho mọi người về công dụng của loài thảo dược này.

Đâu là phép mầu kì diệu?

8 năm trước đây, tôi đột nhiên bị đau khủng khiếp ở cẳng tay và đốt sống cổ từ số 4 đến số 6. Tôi không thể ngoái đầu lại được, không cử động và nâng tay được v.v... Tại phòng khám đa khoa ở địa phương, người ta khám và chẩn đoán - vôi hóa đốt sống cổ số 4~6, xếp tôi vào nhóm thương tật mức 2. Họ bắt đầu điều trị bằng tiêm, xoa bóp. Nhưng tất cả việc này đã không làm bớt đau chút nào.

Đến giúp việc cho tôi là một phụ nữ tên là Va-len-tin Pê-trôp-na Các-trin-xi-na. Ở nhà cô ấy từ lâu đã có cây Lược vàng (Lúc nào cũng có bình rượu ngâm). Bôi, xoa bóp 3~4 lần/ngày ở đốt sống cổ và cẳng tay. Tôi đã được chữa khỏi căn bệnh này cho đến ngày nay. Tôi không hề bị cảm lạnh, đau cánh tay nữa. Khi đó tôi phải băng 4 lớp bông băng tẩm rượu ngâm, 2 lớp gạc. Tất cả bây giờ đã qua rồi.

Hiệu quả điều trị kì diệu của loài thảo dược này đã khêu gợi tính tò mò của tôi. Tôi biết rằng, uống loại rượu ngâm này điều trị các bệnh nội tạng như bệnh lao, bệnh đái tháo đường, bệnh u bướu. Vì vậy, tôi tự đưa ra công thức pha chế. Thân cây Lược vàng - 12 đốt mắt (cắt ra) - ngâm với 0,5 lít rượu Vodka, đậy kín, bảo quản 10 ngày trong chỗ tối. Uống mỗi lần từ 25 giọt đến 1 thìa nhỡ.

Bây giờ tôi đã 80 tuổi, năm 2001 tôi làm việc trong một trường phổ thông. Tôi bị xe tông phải, lái xe bỏ chạy. Để tôi nằm trong vũng nước lạnh buốt với rất nhiều vết thương nặng và chấn thương sọ não. Trong viện cấp cứu người ta nói rằng, "Tôi sinh ra vào giờ hoàng đạo nên rất may mắn và cao số". Họ băng bó và khâu vết thương cho tôi. Sau 2 ngày tôi hồi tỉnh với chân trái thâm đen từ gót đến mông, cơ bị dập nát, không bị gãy xương. Ngày thứ hai, đến thăm tôi là Va-len-tin Pê-trôp-na với bình rượu ngâm Lược vàng. Lúc này cô ấy ngồi và xoa bóp rượu thuốc cho tôi mấy lần lên chân. Sáng ngày hôm sau mọi thâm tím đều biến mất hết. Giấu không cho bác sĩ biết, trong vòng 10 ngày uống rượu thuốc ngâm theo liều lượng 1 thìa nhỡ/lần, 3 lần/ngày, vào trước bữa ăn. Nghỉ uống 7 ngày, sau đó tiếp tục 2 đợt uống như vậy ở nhà. Sau 1 tháng tôi có thể ngồi, và sau đó 1 tháng nữa, đi lại bằng gậy, sau 4 tháng tôi đã đi ra phố.

Vào tháng 7 năm ngoái, bạn gái tôi đột ngột đau dữ dội ở dạ dày. Gọi cấp cứu. Trong bệnh viện Quy-bu-xép-xki người ta chẩn đoán bà ấy bị u nang đại tràng cấp - ung thư. Họ đã mổ cắt khối u, cấy ống thoát dịch và ghi vào giấy sau 3 tháng quay lại viện khám lại. Suốt thời gian nằm ở nhà, uống rượu thuốc ngâm lược vàng với liều lượng 25 giọt/lần và bôi rửa vào vết mổ khâu. Sau 3 tháng bà ấy quay lại bệnh viện để bác sĩ kiểm tra, khám lại thì lỗ cấy ống thoát dịch đã biến mất, vết khâu đã lành hẳn. Bà ấy tiếp tục uống rượu thuốc ngâm. Chỗ vết mổ khâu bây giờ chỉ còn lại một sẹo nhỏ - chỗ cấy ống thoát dịch. Trái ngược với mọi dự đoán, nay đã 70 tuổi, bà ấy vẫn làm việc và cảm thấy sức khỏe tuyệt vời.
Lược vàng huyền bí “ Lược vàng kỳ diệu “
Anh trai của bạn gái tôi sau 2 tháng rưỡi điều trị ở khoa u bướu, họ viết giấy cho về nhà chờ chết vì bị ung thư dạ dày, mổ xẻ bây giờ đã quá muộn! Ông ấy đã uống rượu thuốc ngâm Lược vàng với liều lượng 1 thìa nhỡ. Sau 3 tuần, huyết sắc tố tăng từ 42 đến 120. Cảm thấy sức khỏe tốt, tăng cân, kiểm tra trong bệnh viện cho thấy khối u biến mất, không còn vết tích gì ở ổ bụng.

Huyền bí, chữa bệnh, tuyệt vời, kì diệu của thảo dược Lược vàng là như thế đấy. Tôi đã nhân giống cây này trồng trên toàn bộ 4 cái chậu trước 2 bệ cửa sổ hoặc ở đâu đó có thể.

Da-vui-den-co Alếch-xan-dre Alếch-xeev-na (192242, tp St.Pê-téc-bua đường Bu-kha-ret-xkaia, Nhà 23, cụm 1, căn hộ 922).

Cô ấy sử dụng và đã sống

Một năm rưỡi trước đây, qua người bạn cùng phòng cho biết sự bồi bổ mầu nhiệm của cây thuốc nhà - được gọi là cây bắp. Tôi đã trồng nó và dùng để dự phòng. Tôi đã đi tất cả các thư viện của thành phố Ki-si-nhốp, để làm rõ tên khoa học và tính điều trị của loài cây này. Đã thấy, đó là cây hoa chùm kép - đơn giản là cây Sâm nhà, cây Tóc tươi, cây Bắp, cây Lược vàng. Trong thời gian gần đây, Tạp chí "30 K" đã nói nhiều. Tôi nhắc lại lần nữa vì sau nhiều lần thực nghiệm trên bản thân, tôi đã tìm ra phương pháp sử dụng mới. Không phải ngâm rượu, mà nhai sống, bằng cách nhai kĩ Lược vàng ngay sau khi cắt. Vì như vậy, phương pháp này tận dụng hết công hiệu của nó. Còn cách điều trị, như tôi đã thuyết minh, sử dụng không chỉ chồi, búp, mà còn thân lá, thậm chí cả rễ.

Tính hiệu quả nhất, là sử dụng đoạn thân dài 2~3 cm, dùng nó 3 lần/ngày vào nửa giờ trước khi ăn. Dựa vào sự cảm nhận của bản thân người dùng mà có thể tăng hoặc giảm liều lượng xuống 1~2 cm. Ban đầu tôi sử dụng thảo dược mầu nhiệm này 2 lần/ngày, theo chu kì 15~30 ngày, bây giờ tôi dùng hằng ngày. Tôi cảm thấy không có phản ứng gì mà rất tốt. Thứ nhất, sung sức, cường tráng, muốn làm gì thì làm. Thứ hai, Ung thư dạ dày của tôi đã êm, bệnh đau rát thực quản biến mất, sau đó táo bón (bí đại tiểu tiện) ngừng hành hạ tôi. Bệnh sỏi thận bị đẩy lui, thật bất ngờ đối với bác sĩ theo dõi, sau 15 năm tôi trị bệnh, đi tất cả các trại điều dưỡng. Trước khi bắt đầu dùng Lược vàng, tôi bị phát bệnh đục thủy tinh thể, không nhìn thấy được. Sau một tháng dùng theo quy trình trên thì dừng, và bây giờ tôi đã nhìn thấy, thậm chí đã nhìn thấy rõ hơn trước. Sử dụng Lược vàng giảm huyết áp và làm thông động mạch vành. Bây giờ sử dụng thuốc với liều lượng chỉ cần một nửa.

Trong cơ thể tôi bị rối loạn mất cân bằng nước và muối khoáng, vôi hóa khớp xương và các bệnh khác. Qua 2 tháng, sau khi nhai nuốt Lược vàng, các bào tử vôi biến mất. Việc uống Lược vàng chữa bệnh vôi hóa các khớp xương tốt hơn. Không rát cổ, không đau họng, sổ mũi, lợi vững chắc hơn.

Mu-chi-ep-va A.D (277038, tp Ki-si-nhép, phố Clê-che-ban, nhà 84, căn hộ 38).

Tôi không đầu hàng

Từ lâu tôi chuyên đặt mua Tạp chí Ves-nhich, nó trở thành cuốn sách trên bàn của tôi. Bây giờ mọi người thường đến tôi tìm lời khuyên rằng, nếu điều trị thế này hay thế kia theo tạp chí (Sức khỏe & Đời sống) "30K". Lương hưu không đủ trang trải cho tất cả, rằng báo đã nói cái gì hay nhất. Tôi và vợ thương tật nhóm một. Tôi bị cắt 1/3 chân và bệnh đái tháo đường. Còn vợ tôi bị bại liệt sau cơn đột qụy. Vợ chồng tôi sống cùng nhau, bây giờ tôi vừa là chủ, vừa phục vụ vợ. Tự làm tất cả mọi việc. Đối với tôi, nghỉ ngơi tốt nhất là làm việc. Ngồi trên ghế, cuốc xới đất trên vườn rau, trồng tỉa rau. Cho tới thời gian gần đây, tôi chăn dê và gà. Vào năm 2002, tôi gieo bí ngô khổng lồ. Nếu có ai đó cần hạt giống, tôi có thể gửi thẳng vào phong bì thư. Có kèm địa chỉ cho tôi. Tôi nói cách gieo trồng như thế nào. Dù sao thì hạt bí ngô cũng rất có ích cho người bị bệnh gan, tim, thận.

Điều trị bệnh đái tháo đường từ Lược vàng: Tán nghiền lá Lược vàng, loại lá dài 20 cm, đổ ngập 1 lít nước sôi, quấn ủ hãm. Mỗi ngày uống nước hãm từ 3 lần, trước bữa ăn 10 phút, theo liều lượng 50 gam dạng ấm nóng. Kết quả đã xác nhận qua phân tích mức đường trong máu giảm. Thực nghiệm một công thức pha chế: Cắt 2 đoạn thân Lược vàng, mỗi đoạn dài 7 đốt mắt, ngâm 10 ngày trong 250 CC rượu Vodka. Bắt đầu uống 2 lần/ngày, với liều lượng 5 giọt/lần. Tiếp tục sử dụng như vậy.

Cách dùng là, cứ mỗi ngày tăng thêm 1 giọt, tăng cho đến 12 giọt thì giảm dần theo từng ngày cho trở về tới liều lượng như lúc uống ban đầu. Cần uống 5 đợt như vậy, giữa các đợt có nghỉ uống một số ngày. Sau đợt 1 và 2 mỗi đợt nghỉ uống 7 ngày. Sau đợt 3 và 4 mỗi đợt nghỉ 10 ngày. Tôi đã làm hoàn toàn như vậy và cảm thấy bây giờ rất dễ chịu. Làm việc thoải mái, Tôi nói lên điều này để muốn tất cả độc giả của báo được biết.

Et-cô-va Phê-đo-ru Phi-li-pô-vit-tru (355031, Sta-vrô-pôn, phố 9 tháng 1, số nhà 26 "A").

Nguyễn Hiền Nhân 
(Báo Nguoicaotuoi)


Liệt chân tay do thiếu kali


Chuối giúp ngăn ngừa chứng liệt do thiếu kali.

Căn bệnh đặc biệt này có tên là liệt chu kỳ gia đình, phát sinh khi có tình trạng hạ kali máu. Bệnh dễ bị chẩn đoán nhầm là viêm đa dây thần kinh và chữa bằng Terneurine, rất tốn tiền mà vẫn không khỏi. Nếu được chẩn đoán đúng, việc điều trị sẽ rất dễ dàng.

Bạn có thể nhận biết sớm bệnh liệt chu kỳ gia đình do thiếu kali dựa vào các biểu hiện được ghi trong mấy bệnh án sau:
Chị Lưu Thị Phương, 32 tuổi, bị liệt cả 2 tay, 2 chân vào buổi sáng khi thức dậy; riêng cánh tay phải có cử động lại được một ít. Bệnh khởi 3 ngày trước khi nhập viện. Trước đây bệnh nhân chưa từng liệt bao giờ và gia đình không có ai giống như vậy. Bệnh nhân vẫn tỉnh táo, nhiệt độ, huyết áp bình thường. Khám thần kinh cho thấy bệnh nhân yếu 2 tay, 2 chân chỉ nhúc nhích được một ít, đứng tại chỗ được nhưng không thể nào đi lại; ngoài ra không có rối loạn cảm giác nào được ghi nhận, các phản xạ gân xương vẫn còn. Tim phổi hoàn toàn bình thường. Các bác sĩ nghĩ ngay tới bệnh liệt chu kỳ gia đình do thiếu kali, và các xét nghiệm đã khẳng định điều này. Bệnh nhân được điều trị ngay bằng chlorure de kali dạng gói. Ngay ngày hôm sau, tay chân bệnh nhân đã cử động được. Năm ngày sau, chị đi lại như thường. Sau đó, mỗi lần bệnh tái phát, chị Phương lại được cho dùng muối chlorure de kali.
Chị Nguyễn Ngân Hương 27 tuổi ở Đồng Nai bị liệt tứ chi 15 ngày trước khi vào bệnh viện . Trước đó, chị đã được chẩn đoán viêm đa dây thần kinh, tiêm 5 hộp Terneurine không có kết quả. Khi đã được chẩn đoán liệt chu kỳ và dùng muối chlorure de kali, bệnh nhân đã hồi phục. Giá mỗi gói thuốc chỉ xấp xỉ 10.000 đồng.
Theo y văn thế giới, bệnh liệt chu kỳ do thiếu kali có tính chất gia đình (có nhiều người trong gia đình đều mắc) và tương đối hiếm gặp. Bệnh thường xuất hiện ở thanh niên nhưng cũng có thể gặp ở mọi lứa tuổi. Mỗi đợt liệt kéo dài vài giờ đến vài ngày, tái đi tái lại nhiều lần trong năm. Ở Việt Nam, bệnh thường có tính cá nhân (trong gia đình không ai bị), các đợt liệt thường kéo dài hơn, có khi cả 2 tuần. Cũng có khi bệnh không tái phát. Chẩn đoán bệnh này khá dễ dàng nhờ các triệu chứng: cơn liệt thường xảy ra vào buổi sáng lúc mới thức dậy, liệt tứ chi, đặc biệt có hồi phục phần nào vài giờ hay vài ngày sau đó. Bệnh nhân hoàn toàn không có rối loạn cảm giác, các phản ứng gân xương vẫn còn.
Tại sao bệnh nhân thiếu kali bị liệt tứ chi? Ion kali rất cần cho sự co rút các cơ. Ở bệnh nhân có những đợt hạ kali trong máu, các cơ không còn hoạt động theo ý muốn nữa, gây liệt. Tuy vậy, không phải chứng liệt nào cũng là bệnh liệt chu kỳ. Vì vậy, cần lưu ý:
- Nếu bệnh nhân liệt nửa người té ngã sau khi đi tiểu buổi sáng sớm hay sau khi ăn tiệc xong, đó là tai biến mạch não, thường gặp ở những người trên 50 tuổi. Dân gian gọi là trúng gió, nhưng việc cạo gió càng làm tăng huyết áp, khiến bệnh càng nặng hơn. Tai biến mạch não có 2 dạng thường gặp. Một là xuất huyết não với biểu hiện mê man, thở phì phò, liệt nửa người méo miệng, cao huyết áp; diễn tiến bệnh rất nặng, đa số chết trong vòng 3 ngày đầu. Hai là nhũn não do tắc mạch não, biểu hiện là bệnh nhân còn tỉnh, liệt nửa người, nói không rõ hay á khẩu. Việc chữa trị tích cực cho kết quả tốt nhất trong 15 ngày đầu. Để quá lâu, bệnh nhân có thể tàn phế vĩnh viễn, không đi lại được vì lúc ấy thương tổn trên não đã thành sẹo.
- Bệnh nhân bị liệt 2 chân cần loại trừ viêm đa dây thần kinh gặp ở những người nghiện rượu mãn tính, tiểu đường, thiếu máu, thiếu B1... Ở các bệnh trên, sẽ có thêm rối loạn cảm giác (tê chân), mất phản xạ gân xương, khác hẳn với bệnh liệt chu kỳ.
Có thể điều trị bệnh liệt chu kỳ khá dễ dàng bằng chlorure de kali hằng ngày cho đến khi cơn liệt chấm dứt. Tuy vậy, bệnh nhân thường có những đợt liệt tái phát. Cách phòng ngừa tốt nhất là ăn nhiều chuối hoặc uống ce kali hàng ngày. Thuốc này chỉ được dùng với sự hướng dẫn và theo dõi của bác sĩ. Bệnh nhân không nên tự mua dùng để trị liệt vì có ảnh hưởng xấu trên tim mạch khi dùng quá liều.

Thứ Bảy, 19 tháng 11, 2011

Tác dụng kỳ diệu của qủa sung

  1. Theo Đông y, quả sung có tính bình, vị ngọt, có tác dụng kiện tỳ thanh tràng (tăng cường tiêu hóa, sạch ruột), tiêu thũng, giải độc, có thể sử dụng chữa viêm ruột, kiết lị, bí đại tiện, trĩ, đau họng, mụn nhọt, mẩn ngứa… Lá sung có vị ngọt, hơi đắng, tính bình, có tác dụng giải độc, tiêu thũng, có thể dùng chữa trị sưng thũng, lở loét ngoài da.
  2. Kết quả nghiên cứu những năm gần đây cho thấy, các bộ phận của cây sung, đặc biệt là quả sung, còn có rất nhiều tác dụng trị liệu khác. Dưới đây là một số tác dụng mới phát hiện và cách sử dụng cây sung để chữa bệnh mà có thể còn ít người biết.
  3. Hỗ trợ trong trị liệu ung thư và các bệnh khác
  4. Kết quả nghiên cứu cho thấy, nhựa của trái sung còn xanh có tác dụng ức chế sự phát triển của nhiều loại tế bào ung thư như: Ung thư mô liên kết, ung thư vú tự phát, sarcoma hạch bạch huyết… Còn có thể làm chậm quá trình di căn. Vì vậy, có thể sử dụng để hỗ trợ điều trị ung thư theo một số phương pháp như sau:

  5. - Ung thư dạ dày, ung thư ruột: Hàng ngày, sau mỗi bữa ăn, “tráng miệng” 5 quả sung tươi; hoặc dùng 20g quả khô, sắc nước uống.
  6. - Ung thư thực quản: Trái sung tươi 500g, thịt lợn nạc 100g, hầm trogn 30 phút. Ăn thịt, uống nước canh.
  7. - Ung thư bàng quang: Trái sung xanh 30g (khô), mộc thông 15g, sắc nước uống trong ngày.
  8. - Ung thư phổi: Quả sung xanh 20 trái, chè xanh 10g. Cả hai thứ cho vào nồi, thêm nước vào đun trong 15 phút. Uống thay nước trà trong ngày. Tác dụng: Nhuận phế, thanh tràng, kiềm chế sự sinh trưởng của tế bào ung thư, có thể áp dụng đối với người ung thư phổi trong thời kỳ đầu.
  9. - Chữa khản tiếng: Chỉ cần dùng 20g quả sung, sắc với nước, pha thêm chút đường hoặc mật ong, chia ra uống nhiều lần trong ngày.
  10. - Chữa đau họng do viêm họng: Dùng trái sung còn xanh, phơi khô, tán mịn. Cách 30-40 phút lại lấy một ít bột, ngậm trong miệng và nuốt dần dần. Thông thường, chỉ cần ngậm vài lần đã thấy họng đỡ đau hẳn.
  11. - Chữa loét dạ dày, hành trá tràng: Trái sung sấy khô, tán bột, ngày uống 3 lần, mỗi lần 5g, liên tục trong 10 ngày (1 liệu trình), nghỉ 3-4 ngày, lại tiếp tục một liệu trình khác.
  12. - Đại tiện táo bón: Dùng trái sung còn xanh (tươi hoặc khô đều được) 10 quả, lòng lợn 1 đoạn, nấu canh ăn trong bữa cơm. Có thể ăn liên tục đến khi khỏi bệnh.
  13. - Trĩ lở loét: Dùng sung 10-20 trái (nếu không có quả, có thể dùng 30-40g rễ hoặc lá) nấu với 2 lít nước. Tối trước khi đi ngủ xông và rửa giang môn, liên tục trong 7 ngày (1 liệu trình).
  14. - Mụn nhọt, sưng vú: Rửa sạch mụn nhọt, lau khô nước. Băm thân cây sung, hứng lấy một chén con nhựa, bôi trực tiếp vào chỗ đau, sưng đỏ đến đâu bôi đến đó, bôi liên tục nhiều lần. Hoặc có thể trộn nhựa sung với lá non, giã nát rồi đắp lên chỗ đau: Mụn chưa có mủ thì đắp kín, mụn đã vỡ mủ thì đắp để hở một chỗ bằng hạt ngô (bắp). Khi đã có mủ, muốn lấy ngòi ra thì giã thêm một củ hành với nhựa và lá sung rồi đắp như trên, để hở miệng. Nếu sưng vú, đắp hở đầu vú.
  15. - Thủy đậu: Dùng lá sung tươi 100 - 150g, sắc lấy nước, dùng bông hoặc dùng khăn mềm tẩm nước thuốc, bôi lên chỗ bị bệnh, ngày 3-5 lần. Hoặc vạc một mảng vỏ sung cỡ 2 bàn tay, cạo bỏ lớp vỏ cứng bên ngoài, đập dập cho vào nồi nấu, chờ nước đỡ nóng (còn âm ấm) thì tắm. Nói chung, sau 3-5 ngày là có kết quả, da nhẵn nhụi không hề có sẹo. Nhiều người đã ứng dụng thấy kết quả tốt.
  16. - Chữa zona: Lá sung rửa sạch, hong khô, cắt nhỏ, thêm chút giấm ăn, giã nhuyễn, đắp vào chỗ bị bệnh, thuốc khô lại thay.
  17. - Chữa mụn cơm (mụn cóc): Dùng lá hoặc cành sung, dùng dao cắt hoặc khía cho nhựa rỉ ra, lấy nhựa bôi trực tiếp vào mụnc ơm, ngày bôi 2 lần. Thông thường, sau 5-6 ngày là mụn rụng. Trường hợp chưa khỏi có thể tiếp tục bôi tới khi khỏi hẳn.
  18. Theo Suc khoe doi song
  19.  
  20.  

  21. Một số cách dùng cụ thể:
  22. Viêm họng: (1) Sung tươi sấy khô, tán bột rồi lấy một ít bột này thổi vào họng. (2) Sung tươi gọt vỏ, thái phiến, sắc kỹ lấy nước, cho thêm đường phèn rồi cô nhỏ lửa thành dạng cao, ngậm hàng ngày.

  23. Ho khan không có đờm: Sung chín tươi 50-100g gọt bỏ vỏ, đem nấu với 50-100g gạo thành cháo, chia ăn vài lần trong ngày. Có thể cho thêm ít nho khô hoặc đường phèn cho dễ ăn. Hen phế quản: Sung tươi lượng vừa đủ, rửa sạch, giã nát, ép lấy nước cốt uống mỗi ngày 1 lần.

  24. Viêm loét dạ dày tá tràng: Sung sao khô tán bột, mỗi ngày uống 2-3 lần, mỗi lần 6-9g với nước ấm.
  25. Tỳ vị hư nhược, hay rối loạn tiêu hóa: Sung 30g, thái nhỏ, sao hơi cháy, mỗi ngày lấy 10g hãm với nước sôi trong bình kín, sau 20 phút thì dùng được, chế thêm một chút đường phèn, uống thay trà trong ngày.

  26. Kiết lỵ: Sung vài quả (tùy theo tuổi), sắc kỹ lấy nước, chế thêm một chút đường rồi uống. Nếu không có quả sung thì có thể dùng lá sung tươi sắc uống.
  27. Táo bón: (1) Sung tươi 9g sắc uống hàng ngày. (2) Sung chín ăn mỗi ngày 3-5 quả. (3) Sung tươi 10 quả rửa sạch bổ đôi, ruột già lợn một đoạn làm sạch thái nhỏ, hai thứ đem hầm nhừ, chế thêm gia vị, ăn trong ngày.

  28. Trĩ xuất huyết, sa trực tràng: (1) Sung tươi 10 quả đem hầm với một đoạn ruột già lợn cho nhừ rồi ăn. (2) Sung tươi 6g, rễ thị 9g, sắc uống. Nếu không có quả, có thể dùng lá sung sắc lấy nước xông ngâm tại chỗ chừng 30 phút. Sa đì: Sung 2 quả, tiểu hồi hương 9g, sắc uống.

  29. Sản phụ thiếu sữa: Sung tươi 120g, móng lợn 500g, hai thứ đem hầm thật nhừ, chế thêm gia vị, chia ăn vài lần trong ngày. Bài này có công dụng bổ khí huyết, hạ nhũ chấp (làm ra sữa) dùng rất tốt cho sản phụ sau sinh suy nhược, khí huyết bất túc, sữa không có hoặc có rất ít.
  30. Viêm khớp: (1) Sung tươi lượng vừa đủ đem hầm với thịt lợn nạc ăn. (2) Sung tươi 2-3 quả rửa sạch thái vụn rồi tráng với trứng gà ăn.

  31. Mụn nhọt, lở loét: Sung chín sao khô, tán bột rồi rắc lên tổn thương. Để đạt hiệu quả cao, trước đó có thể ngâm rửa tổn thương bằng nước sắc quả hay lá sung tươi, sau đó lau khô rồi rắc bột thuốc và băng lại.
  32. Ngoài ra, nhựa của thân cây hay quả sung xanh còn được dân gian dùng để chữa mụn nhọt, bắp chuối và sưng vú. Cách dùng cụ thể như sau: Rửa sạch tổn thương, lau khô, dùng nhựa sung bôi trực tiếp vào nơi bị bệnh, sưng đỏ đến đâu thì bôi đến đó, bôi nhiều lần trong ngày. Để tránh bôi nhiều lần, có thể trộn nhựa sung với lá non, giã nát rồi đắp lên chỗ đau. Nếu mụn chưa có mủ thì đắp kín, nếu đã vỡ mủ thì đắp để hở một chỗ bằng hạt ngô. Khi đã có mủ muốn lấy ngòi ra thì giã thêm một củ hành với nhựa sung rồi đắp như trên, để hở miệng. Nếu sưng vú, đắp hở đầu vú.
  33. Nhựa sung còn dùng để chữa đau đầu: 
  34. Phết nhựa lên giấy bản rồi dán hai bên thái dương. Có thể phối hợp với việc ăn lá sung non hoặc uống nhựa sung với liều 5ml hòa trong nước đun sôi để nguội, uống trước khi đi ngủ.
  35.  
  36.  
  37.  
  38.  
  39. Quả sung chữa nhiều bệnh 

  40. 22/04/2009 18:40 
  41. Quả sung chữa được nhiều bệnh - Ảnh: K.Vy
  42. Sung là loại cây thuộc họ đậu, còn có tên khác là thiên sinh tử, văn tiên quả, phẩm tiên quả, quá sữa, quả mật... Dưới đây là những công dụng của sung dùng chữa bệnh theo lương y Vũ Quốc Trung.
  43. Công dụng
  44. Quả sung vị ngọt, hơi chua, tính bình, có công dụng kiện tỳ chống đi lỏng, thanh nhiệt tiêu sưng, nhuận phổi, lợi họng, thông sữa..., thích hợp với các chứng tỳ vị hư nhược, tiêu hóa không tốt, đi tiêu lỏng lâu không cầm, lở loét đau sưng, họng sưng đau mất tiếng, trĩ chảy máu, sau khi đẻ sữa ít hoặc không thông. Ngoài ra quả tươi còn có tác dụng nhuận tràng, dùng cho người ruột nóng, táo bón.
  45. Những cách dùng sung chữa bệnh
  46. * Tỳ hư, đi lỏng lâu ngày, tiêu hóa kém: Sung 15 – 30g, đun nước uống.
  47. * Lở loét sưng đau: Quả sung tươi giã nát, trộn với dầu vừng bôi lên vết loét.
  48. * Họng khô đau rát, mất tiếng: quả sung 30g, đun lên vắt lấy nước, thêm ít đường phèn, chia ra uống làm vài lần trong ngày.
  49. * Trĩ chảy máu: quả sung 30 – 50g, ruột heo 1 đoạn, đem hầm chung để ăn.
  50. * Trĩ, búi trĩ lòi ra ngoài: Sung tươi 10 quả, nấu nước dùng rửa hoặc ngâm.
  51. * Sản phụ ít sữa hoặc tắc tia sữa: Quả sung 100g, chân giò heo 1 cái, hầm lên ăn.
  52. * Thở khò khè: Sung chín tươi một ít đem rửa sạch, giã nát cả vỏ, chắt lấy nước, thêm nước ấm vào để uống. Có thể dùng thường xuyên.
  53. * Loét dạ dày và hành tá tràng: Sung 500g, sao khô nghiền bột, mỗi lần dùng 5g với nước ấm, ngày uống 3 lần.
  54. * Kiết lỵ: Sung 5 – 7 quả, đem sắc lấy nước uống, mỗi ngày 2 lần.
  55. * Táo bón, trĩ, lòi dom: Sung chín tươi ăn sống, mỗi ngày 3 – 5 quả; cũng có thể dùng 10 quả sung, 250g ruột già heo, đem ninh chín nhừ để ăn.
  56. * Mụn, lở loét: Sung sao khô nghiền bột, trước tiên dùng sung sắc lấy nước rửa sạch bề mặt vết loét, sau đó thoa bột sung đã nghiền mịn vào rồi băng lại, mỗi ngày thay một lần.
  57. * Viêm họng do phổi nóng: Sung (khô) 250g, đường phèn vừa đủ, đem sắc lấy nước uống, mỗi ngày 2 – 3 lần.
  58. * Viêm họng: Sung tươi gọt vỏ, đun nhừ với nước, thêm đường phèn hoặc đường trắng lượng vừa đủ, làm thành dạng cao để ngậm.
  59. * Ho khan không đờm: Sung chín tươi 50 – 100g (gọt vỏ hoặc rửa sạch), nho khô lượng vừa đủ, gạo tẻ 20 – 50g. Hấp thành bánh ngọt hoặc nấu thành cháo ăn. Mỗi ngày 2 lần vào buổi sáng và buổi tối.
  60. Lưu ý, quả sung tươi có thể làm trơn ruột, thông tiện, do đó người đi ngoài phân lỏng không nên ăn sống.
  61.  



PHƯƠNG THUỐC KHAI THÔNG TÂM MẠCH:


1.      Nước Chanh             1 cup
2.      Nước Gừng               1 cup
3.      Nước Tỏi                    1 cup
4.      Dấm táo                    1 cup

Trộn chung bốn thứ vừa kể, đem đun sôi trên lửa nhỏ độ nửa giờ. Khi dung dịch trên đặc lại còn 3 cups, lấy xuống và để nguội.

Cho thêm 3 cups mật ong vào dung dịch này, trộn đều và cho vào chai.
Mỗi sáng sớm, uống một muỗng soup trước khi điểm tâm. Cứ uống đều đặn như vậy, các mạch máu ở tim sẽ được thông suốt, hết bị nghẽn. (Khỏi phải đi rọi tim hay thông tim)
Một phương thuốc huyền diệu : hỗn hợp tỏi, dấm và mật ong
Các bác sĩ  hàng đẩu đã phát hiện là sự kết hợp tỏi(garlic), dấm(vinegar) và mật ong(honey) cho ta một liểu thuốc kỳ diệu có thể chữa được mọi bệnh tật từ  ung thư tới viêm khớp. Nhiểu nghiên cứu đáng chú ý tại các đại học nổi tiếng trên thế giới đã chứng tỏ là bài thuốc đơn giản và rẻ  tiền này là một phương thức siêu đẵng để chữa trị hẩu như mọi tai ách. Các chuyên gia đã kiểm chứng là bộ ba tỏi – dấm- mật ong có thể “quét sạch””các  bệnh thông thường lẫn cả các bệnh hiếm xẩy ra . Những bệnh đã được chữa thành công gồm có bệnh Alzheimer, viêm khớp, cao huyết áp, vài loại ung thư, cholesterol cao, cảm lạnh, cúm, đẩy hơi, chậm tiêu, nhức đầu, tim mạch, trĩ, vô sinh và bất lực, đau răng, mập phì, loét và nhiểu bệnh khác nữa,

Trong một nghiên cứu vể viêm khớp, bác sĩ Angus Peters thuộc Đại học Edinburg đã tìm thấy là uống đều đặn mỗi ngày dấm trộn với mật ong làm giảm tới 90 phẩn trăm các đau đớn Theo bác sĩ Raymond Fish thuộc Trung tâm nổi tiếng Obesity Research Center  (London) thì một liểu lượng tỏi và dầm uống mỗi ngày có tác dụng hủy diệt chất béo và giảm ký rất mạnh. Tạp chí Y học The Lancet của Anh đã báo cáo là mức cholesterol giảm trung bình từ 231.4 xuống 224.4 sau khi các người tình nguyện ăn  50 gram tỏi và 4 ounce bơ Điều này chứng tỏ là tác dụng nguy hại của các thức ăn nhiểu chất béo có thể được hoá giải bẵng cách thêm tỏi vào chế độ ăn uống. Một nghiên cứu trên 261 bệnh nhân thành niên thực hiện bởi  German Association of General Practitioners cho thấy là các nhân tố về mức cholesterol và triglyceride trong huyết thanh, có liên hệ với rũi ro bị bệnh tim, giảm một cách đáng kể nếu thêm tỏi đểu đặn vào thực chế Các  nghiên cứu tại Housing’s MD Anderson Cancer Institute Houston, Đại học Pennsylvalnia State University và GCLA  đã cũng cố các bằng chứng trước đây cho rẳng một số chất có trong tỏi  ức chể được các tác nhân gây ung thư vú, kết tràng, thực quản và da. Trung tâm Ung thư Quốc gia (NCI) đã  phát hiện trong một nghiên cứu trên 1,000 nguời là ăn nhiểu tỏi  làm giảm rũi ro ung thư dạ dày. Theo giáo sư Etik Block thuộc Đại học State University of New York, Albany thì tỏi phóng thích được ít nhất 100 hợp chất sản xuất ra sulfur, tất cả đểu có tiềm  năng y dược cao Không còn  có thể nghi ngờ  là liều thuốc kỳ diệu tỏi, dấm và mật ong có thể  kéo dài tuổi thọ cũa chúng ta nhờ khả năng bảo vê cơ thể chống lại nhiều tác nhân giết người                                                                                                    Bác sĩ Hen Lee Tsao đã viết trên tạp chí Trung hoa Journal of Natural Medicine như sau“ “Các bệnh nhân khi uống hỗn hợp huyển diệu này trước bũa ăn sáng đểu thấy huyết áp và mức  cholesterol giảm đáng kể sau chưa đầy một tuân lễ “, Nhà dinh dưỡng học người Ý  Emilio Steffani cho biết thêm” Sau nhiểu năm kiểm tra một các khoa học, các chuyên gia trên khằp thế giới đã xác nhận là hỗn hợp tỏi, dấm và mật ong là một liều thuốc huyển diệu của Thiên nhiên Bác sĩ Jack Soltanoff, chuyên gia dinh dưỡng tại New York, đã  ca ngợi các lợi ích của dấm táo apple cider vinegar. Ông nói “ Cả ba nguyên liệu công hiệu trên đều sẵn có ở mọi nơi  và nếu dùng mỗi ngày chỉ tốn vài pennies  thế mà chẳng hiểu tại sao lại không được  sử dụng rộng rãi hơn” Ông đã ghi nhận nhiểu thành quả tốt đẹp trong số các bệnh nhân viêm khớp của ông.  Ông nói “ Tôi đã chứng kiến nhiểu bệnh nhân viêm khớp khi uống đã  cảm thấy dễ chịu ngay. Chỉ trong vài tuẩn lể phần lớn các bệnh nhân bị vìêm khờp hành hạ đã có thể hoạt động  bình thường “ Bác sĩ Tsao ca tụng hết mình sự hiệu nghiệm cũa mật ong.  Mât ong được miêu tả là một thực phẩm hoàn hảo , chứa ít nhất 31 ch ất dinh dưỡng, 13 khoáng chất, các thành phần cấu tạo của 9 vitamin, 6 acid và 4 enzym then chốt, Những bệnh nhân uống hàng ngày hỗn hợp dấm và mật ong trông tráng kiện hơn,  không bao giờ bi cảm lạnh và bị  bệnh nhiễm khuẫn, và nói chung họ khoẻ mạnh hơn những người khác. Như vậy việc liểu thuốc linh nghiêm này có thể kéo dài tuổi thọ bẳng cách bảo vệ chúng ta chống lại các tác nhận giểt người  là một vần để không còn phải bàn cãi. Mật ong không những giúp cho liểu thuốc dễ uống hơn nhờ vị ngọt cũa nó mà còn giúo cơ thể có khả năng hấp thu các dược tính cũa những nguyên liệu trong thuốc. Tỏi là môt kho dư trữ vitamin và khoáng chất, nhưng điều làm các nhà khoa học hứng khởi nhất là trong tỏi có chất allicin, một enzyme (amino acid) có tácdụng kích thích hệ miễn dịch Cách pha chế liểu thuốc tỏi, dấm và mật ong Trong một bát trộn đều một cup dấm cider vinegar , một cup mật ong và  tám củ tỏi đã xắt nhỏ. Cho tấr cả vào trong máy xay rồi xay với vận t ốc cao trong 60 giây . Đổ hỗn hơp v ào trong môt hũ ,. đậy kín và để trong tủ lạnh ít nhất 5 ngày. Liểu lượng bình thuờng là 2 muỗng  nhỏ hỗn hợp trên đây trong môt cốc nước hay nuớc trái cây (nuớc nho hay cam là tốt nhất), uống trước bữa ăn sáng. Có thể uống thêm một ly nữa vào buổi chiểu tối.

Sưu tầm internet